|
QUỐC HỘI
Luật số: 02/2007/QH12
|
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do -
Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 21 tháng 11 năm 2007
|
LUẬT
PHÒNG, CHỐNG BẠO
LỰC GIA ĐÌNH
Căn
cứ Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi bổ
sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;
Quốc
hội ban hành Luật phòng, chống bạo lực gia đình.
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều
1. Phạm vi điều chỉnh
1. Luật này quy định về
phòng ngừa bạo lực gia đình, bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình; trách
nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức trong phòng, chống bạo lực gia
đình và xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình.
2. Bạo lực gia đình là
hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại
về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình.
Điều
2. Các hành vi bạo lực gia đình
1. Các hành vi bạo lực
gia đình bao gồm:
a) Hành hạ, ngược đãi,
đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng;
b) Lăng mạ hoặc hành vi
cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;
c) Cô lập, xua đuổi hoặc
gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng;
d) Ngăn cản việc thực
hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ
và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;
đ) Cưỡng ép quan hệ tình
dục;
e) Cưỡng ép tảo hôn;
cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ;
g) Chiếm đoạt, huỷ hoại,
đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác
trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình;
h) Cưỡng ép thành viên
gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát
thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính;
i) Có hành vi trái pháp
luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở.
2. Hành vi bạo lực quy
định tại khoản 1 Điều này cũng được áp dụng đối với thành viên gia đình của vợ,
chồng đã ly hôn hoặc nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như
vợ chồng.
Điều
3. Nguyên tắc phòng, chống bạo lực gia đình
1. Kết hợp và thực hiện
đồng bộ các biện pháp phòng, chống bạo lực gia đình, lấy phòng ngừa là chính,
chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục về gia đình, tư vấn, hoà giải phù hợp
với truyền thống văn hoá, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.
2. Hành vi bạo lực gia
đình được phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời theo quy định của pháp luật.
3. Nạn nhân bạo lực gia
đình được bảo vệ, giúp đỡ kịp thời phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của họ và
điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước; ưu tiên bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp
của trẻ em, người cao tuổi, người tàn tật và phụ nữ.
4. Phát huy vai trò,
trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cộng đồng, cơ quan, tổ chức trong phòng,
chống bạo lực gia đình.
Điều
4. Nghĩa vụ của người có hành vi bạo lực gia đình
1. Tôn trọng sự can
thiệp hợp pháp của cộng đồng; chấm dứt ngay hành vi bạo lực.
2. Chấp hành quyết định
của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
3. Kịp thời đưa nạn nhân
đi cấp cứu, điều trị; chăm sóc nạn nhân bạo lực gia đình, trừ trường hợp nạn
nhân từ chối.
4. Bồi thường thiệt hại
cho nạn nhân bạo lực gia đình khi có yêu cầu và theo quy định của pháp luật.
Điều
5. Quyền và nghĩa vụ của nạn nhân bạo lực gia đình
1. Nạn nhân bạo lực gia
đình có các quyền sau đây:
a) Yêu cầu cơ quan, tổ
chức, người có thẩm quyền bảo vệ sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm, quyền và lợi
ích hợp pháp khác của mình;
b) Yêu cầu cơ quan,
người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn, bảo vệ, cấm tiếp xúc theo quy
định của Luật này;
c) Được cung cấp dịch vụ
y tế, tư vấn tâm lý, pháp luật;
d) Được bố trí nơi tạm
lánh, được giữ bí mật về nơi tạm lánh và thông tin khác theo quy định của Luật
này;
đ) Các quyền khác theo
quy định của pháp luật.
2. Nạn nhân bạo lực gia
đình có nghĩa vụ cung cấp thông tin liên quan đến bạo lực gia đình cho cơ quan,
tổ chức, người có thẩm quyền khi có yêu cầu.
Điều
6. Chính sách của Nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình
1. Hằng năm, Nhà nước bố
trí ngân sách cho công tác phòng, chống bạo lực gia đình.
2. Khuyến khích cơ quan,
tổ chức, cá nhân tham gia, tài trợ cho hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình;
phát triển các mô hình phòng ngừa bạo lực gia đình và hỗ trợ nạn nhân bạo lực
gia đình.
3. Khuyến khích việc
nghiên cứu, sáng tác văn học, nghệ thuật về phòng, chống bạo lực gia đình.
4. Tổ chức, hỗ trợ việc
bồi dưỡng cán bộ làm công tác phòng, chống bạo lực gia đình.
5. Người trực tiếp tham
gia phòng, chống bạo lực gia đình mà có thành tích thì được khen thưởng, nếu bị
thiệt hại về sức khoẻ, tính mạng và tài sản thì được hưởng chế độ theo quy định
của pháp luật.
Điều
7. Hợp tác quốc tế về phòng, chống bạo lực gia đình
1. Nhà nước khuyến khích
hợp tác quốc tế về phòng, chống bạo lực gia đình trên nguyên tắc bình đẳng, tôn
trọng chủ quyền, phù hợp với pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế.
2. Nội dung hợp tác quốc
tế bao gồm:
a) Xây dựng và thực hiện
chương trình, dự án, hoạt động về phòng, chống bạo lực gia đình;
b) Tham gia tổ chức quốc
tế; ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế về
phòng, chống bạo lực gia đình;
c) Trao đổi thông tin và
kinh nghiệm về phòng, chống bạo lực gia đình.
Điều
8. Những hành vi bị nghiêm cấm
1. Các hành vi bạo lực
gia đình quy định tại Điều 2 của Luật này.
2. Cưỡng bức, kích động,
xúi giục, giúp sức người khác thực hiện hành vi bạo lực gia đình.
3. Sử dụng, truyền bá
thông tin, hình ảnh, âm thanh nhằm kích động bạo lực gia đình.
4. Trả thù, đe doạ trả
thù người giúp đỡ nạn nhân bạo lực gia đình, người phát hiện, báo tin, ngăn
chặn hành vi bạo lực gia đình.
5. Cản trở việc phát
hiện, khai báo và xử lý hành vi bạo lực gia đình.
6. Lợi dụng hoạt động
phòng, chống bạo lực gia đình để trục lợi hoặc thực hiện hoạt động trái pháp
luật.
7. Dung túng, bao che,
không xử lý, xử lý không đúng quy định của pháp luật đối với hành vi bạo lực
gia đình.
Chương
II
PHÒNG
NGỪA BẠO LỰC GIA ĐÌNH
Mục
1
THÔNG
TIN, TUYÊN TRUYỀN
VỀ
PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH
Điều
9. Mục đích và yêu cầu của thông tin, tuyên truyền về phòng, chống bạo lực gia
đình
1. Thông tin, tuyên
truyền về phòng, chống bạo lực gia đình nhằm thay đổi nhận thức, hành vi về bạo
lực gia đình, góp phần tiến tới xoá bỏ bạo lực gia đình và nâng cao nhận thức
về truyền thống tốt đẹp của con người, gia đình Việt Nam.
2. Thông tin, tuyên
truyền về phòng, chống bạo lực gia đình phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:
a) Chính xác, rõ ràng,
đơn giản, thiết thực;
b) Phù hợp với từng đối
tượng, trình độ, lứa tuổi, giới tính, truyền thống, văn hóa, bản sắc dân tộc,
tôn giáo;
c) Không làm ảnh hưởng
đến bình đẳng giới, danh dự, nhân phẩm, uy tín của nạn nhân bạo lực gia đình và
các thành viên khác trong gia đình.
Điều
10. Nội dung thông tin, tuyên truyền về phòng, chống bạo lực gia đình
1. Chính sách, pháp luật
về phòng, chống bạo lực gia đình, bình đẳng giới, quyền và nghĩa vụ của các
thành viên gia đình.
2. Truyền thống tốt đẹp
của con người, gia đình Việt Nam.
3. Tác hại của bạo lực
gia đình.
4. Biện pháp, mô hình,
kinh nghiệm trong phòng, chống bạo lực gia đình.
5. Kiến thức về hôn nhân
và gia đình; kỹ năng ứng xử, xây dựng gia đình văn hoá.
6. Các nội dung khác có
liên quan đến phòng, chống bạo lực gia đình.
Điều
11. Hình thức thông tin, tuyên truyền về phòng, chống bạo lực gia đình
1. Thực hiện trực tiếp.
2. Thông qua các phương
tiện thông tin đại chúng.
3. Lồng ghép trong việc
giảng dạy, học tập tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.
4. Thông qua hoạt động
văn học, nghệ thuật, sinh hoạt cộng đồng và các loại hình văn hoá quần chúng
khác.
Mục
2
HÒA
GIẢI MÂU THUẪN, TRANH CHẤP
GIỮA
CÁC THÀNH VIÊN GIA ĐÌNH
Điều
12. Nguyên tắc hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình
1. Kịp thời, chủ động,
kiên trì.
2. Phù hợp với chủ
trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đạo đức xã hội
và phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.
3. Tôn trọng sự tự
nguyện tiến hành hòa giải của các bên.
4. Khách quan, công
minh, có lý, có tình.
5. Giữ bí mật thông tin
đời tư của các bên.
6. Tôn trọng quyền, lợi
ích hợp pháp của người khác; không xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công
cộng.
7. Không hòa giải mâu
thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình quy định tại Điều 14 và Điều 15
của Luật này trong những trường hợp sau đây:
a) Vụ việc thuộc tội
phạm hình sự, trừ trường hợp người bị hại yêu cầu không xử lý theo quy định của
pháp luật hình sự;
b) Vụ việc thuộc hành vi
vi phạm pháp luật bị xử lý hành chính.
Điều
13. Hoà giải mâu thuẫn, tranh chấp do gia
đình, dòng họ tiến hành
Gia đình có trách nhiệm kịp thời phát
hiện và hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình.
Trường hợp gia đình không hòa giải được
hoặc có yêu cầu của thành viên gia đình thì người đứng đầu hoặc người có uy tín
trong dòng họ chủ động hòa giải hoặc mời người có uy tín trong cộng đồng dân cư
hòa giải.
Điều
14. Hoà giải mâu thuẫn, tranh chấp do cơ quan, tổ chức
tiến hành
Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm hòa giải
mâu thuẫn, tranh chấp giữa người thuộc cơ quan, tổ chức mình với thành viên gia
đình họ khi có yêu cầu của thành viên gia đình; trường hợp cần thiết thì phối
hợp với cơ quan, tổ chức ở địa phương để tiến hành hòa giải.
Điều
15. Hoà giải mâu thuẫn, tranh chấp do tổ chức hòa giải ở
cơ sở tiến hành
1. Tổ hòa giải ở cơ sở
tiến hành hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình theo quy
định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở.
2. Uỷ ban nhân dân xã,
phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) có trách nhiệm
phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và các tổ chức thành
viên hướng dẫn, giúp đỡ, tạo điều kiện cho các tổ chức hòa giải ở cơ sở thực
hiện hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình.
Mục
3
TƯ
VẤN, GÓP Ý, PHÊ BÌNH TRONG CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ
VỀ
PHÒNG NGỪA BẠO LỰC GIA ĐÌNH
Điều
16. Tư vấn về gia đình ở cơ sở
1. Nhà nước tạo điều
kiện và khuyến khích các tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động tư vấn về gia
đình ở cơ sở cho các thành viên trong cộng đồng dân cư để phòng ngừa bạo lực
gia đình.
2. Tư vấn về gia đình ở
cơ sở bao gồm các nội dung sau đây:
a) Cung cấp thông tin,
kiến thức, pháp luật về hôn nhân, gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình;
b) Hướng dẫn kỹ năng ứng
xử trong gia đình; kỹ năng ứng xử khi có mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành
viên gia đình.
3. Việc tư vấn về gia
đình ở cơ sở tập trung vào các đối tượng sau đây:
a) Người có hành vi bạo
lực gia đình;
b) Nạn nhân bạo lực gia
đình;
c) Người nghiện rượu, ma
tuý, đánh bạc;
d) Người chuẩn bị kết
hôn.
4. Ủy ban nhân dân cấp
xã chủ trì phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và các tổ chức thành
viên hướng dẫn, tạo điều kiện cho hoạt động tư vấn về gia đình ở cơ sở.
Điều
17. Góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư
1. Góp ý, phê bình trong
cộng đồng dân cư được áp dụng đối với người từ đủ 16 tuổi trở lên có hành vi
bạo lực gia đình đã được tổ hòa giải ở cơ sở hoà giải mà tiếp tục có hành vi
bạo lực gia đình.
2. Trưởng thôn, làng,
bản, ấp, phum, sóc, tổ trưởng tổ dân phố hoặc người đứng đầu đơn vị tương đương
(sau đây gọi chung là người đứng đầu cộng đồng dân cư) quyết định và tổ chức
việc góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư. Thành phần tham gia góp ý, phê
bình bao gồm đại diện gia đình, hộ gia đình liền kề và các thành phần khác do
người đứng đầu cộng đồng dân cư mời.
3. Uỷ ban nhân dân cấp
xã có trách nhiệm giúp đỡ, tạo điều kiện cho người đứng đầu cộng đồng dân cư tổ
chức việc góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư đối với người có hành vi bạo
lực gia đình.
Chương
III
BẢO
VỆ VÀ HỖ TRỢ NẠN NHÂN BẠO LỰC GIA ĐÌNH
Mục
1
CÁC
BIỆN PHÁP BẢO VỆ, HỖ TRỢ
NẠN
NHÂN BẠO LỰC GIA ĐÌNH
Điều
18. Phát hiện, báo tin về bạo lực gia đình
1. Người phát hiện bạo
lực gia đình phải kịp thời báo tin cho cơ quan công an nơi gần nhất hoặc Uỷ ban
nhân dân cấp xã hoặc người đứng đầu cộng đồng dân cư nơi xảy ra bạo lực, trừ
trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 23 và khoản 4 Điều 29 của Luật này.
2. Cơ quan công an, Uỷ
ban nhân dân cấp xã hoặc người đứng đầu cộng đồng dân cư khi phát hiện hoặc
nhận được tin báo về bạo lực gia đình có trách nhiệm kịp thời xử lý hoặc kiến
nghị, yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền xử lý; giữ bí mật về nhân thân và
trong trường hợp cần thiết áp dụng biện pháp bảo vệ người phát hiện, báo tin về
bạo lực gia đình.
Điều
19. Biện pháp ngăn chặn, bảo vệ
1. Các biện pháp ngăn
chặn, bảo vệ được áp dụng kịp thời để bảo vệ nạn nhân bạo lực gia đình, chấm
dứt hành vi bạo lực gia đình, giảm thiểu hậu quả do hành vi bạo lực gây ra, bao
gồm:
a) Buộc chấm dứt ngay
hành vi bạo lực gia đình;
b) Cấp cứu nạn nhân bạo
lực gia đình;
c) Các biện pháp ngăn
chặn theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính hoặc pháp luật về
tố tụng hình sự đối với người có hành vi bạo lực gia đình;
d) Cấm người có hành vi
bạo lực gia đình đến gần nạn nhân; sử dụng điện thoại hoặc các phương tiện
thông tin khác để có hành vi bạo lực với nạn nhân (sau đây gọi là biện pháp cấm
tiếp xúc).
2. Người có mặt tại nơi
xảy ra bạo lực gia đình tuỳ theo tính chất, mức độ của hành vi bạo lực và khả
năng của mình có trách nhiệm thực hiện các biện pháp quy định tại điểm a và
điểm b khoản 1 Điều này.
3. Thẩm quyền, điều kiện
áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp quy định tại điểm c khoản 1 Điều này được
thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính hoặc pháp
luật về tố tụng hình sự.
4. Việc áp dụng biện
pháp quy định tại điểm d khoản 1 Điều này được thực hiện theo quy định tại Điều
20 và Điều 21 của Luật này.
Điều
20. Cấm tiếp xúc theo quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã
1. Chủ tịch Ủy ban nhân
dân cấp xã nơi xảy ra bạo lực gia đình quyết định áp dụng biện pháp cấm tiếp
xúc trong thời hạn không quá 3 ngày khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Có đơn yêu cầu của
nạn nhân bạo lực gia đình, người giám hộ hoặc người đại diện hợp pháp hoặc cơ
quan, tổ chức có thẩm quyền; trường hợp cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có đơn
yêu cầu thì phải có sự đồng ý của nạn nhân bạo lực gia đình;
b)
Hành vi b�o lực gia đình gây tổn hại hoặc đe doạ gây tổn hại đến sức khỏe hoặc
đe doạ tính mạng của nạn nhân bạo lực gia đình;
c) Người có hành vi bạo
lực gia đình và nạn nhân bạo lực gia đình có nơi ở khác nhau trong thời gian
cấm tiếp xúc.
2. Chậm nhất 12 giờ, kể
từ khi nhận được đơn yêu cầu, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã xem xét, quyết
định áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc; trường hợp không ra quyết định thì phải
thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người yêu cầu biết.
Quyết định cấm tiếp xúc có hiệu lực ngay
sau khi ký và được gửi cho người có hành vi bạo lực gia đình, nạn nhân bạo lực
gia đình, người đứng đầu cộng đồng dân cư nơi cư trú của nạn nhân bạo lực gia
đình.
3. Chủ tịch Ủy ban nhân
dân cấp xã đã ra quyết định cấm tiếp xúc huỷ bỏ quyết định đó khi có đơn yêu
cầu của nạn nhân bạo lực gia đình hoặc khi nhận thấy biện pháp này không còn
cần thiết.
4. Trong trường hợp gia
đình có việc tang lễ, cưới hỏi hoặc các trường hợp đặc biệt khác mà người có
hành vi bạo lực gia đình và nạn nhân bạo lực gia đình phải tiếp xúc với nhau
thì người có hành vi bạo lực gia đình phải báo cáo với người đứng đầu cộng đồng
dân cư nơi cư trú của nạn nhân bạo lực gia đình.
5. Người có hành vi bạo
lực gia đình vi phạm quyết định cấm tiếp xúc có thể bị tạm giữ hành chính, xử
phạt vi phạm hành chính.
6. Chính phủ quy định cụ
thể việc áp dụng, huỷ bỏ biện pháp cấm tiếp xúc và việc xử lý người có hành vi
bạo lực gia đình vi phạm quyết định cấm tiếp xúc quy định tại Điều này.
Điều
21. Cấm tiếp xúc theo quyết định của Toà án
1. Toà án đang thụ lý
hoặc giải quyết vụ án dân sự giữa nạn nhân bạo lực gia đình và người có hành vi
bạo lực gia đình quyết định áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc trong thời hạn không
quá 4 tháng khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Có đơn yêu cầu của
nạn nhân bạo lực gia đình, người giám hộ hoặc người đại diện hợp pháp hoặc cơ
quan, tổ chức có thẩm quyền; trường hợp cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có đơn
yêu cầu thì phải có sự đồng ý của nạn nhân bạo lực gia đình;
b) Hành vi bạo lực gia
đình gây tổn hại hoặc đe doạ gây tổn hại đến sức khỏe hoặc đe doạ tính mạng của
nạn nhân bạo lực gia đình;
c) Người có hành vi bạo
lực gia đình và nạn nhân bạo lực gia đình có nơi ở khác nhau trong thời gian
cấm tiếp xúc.
2. Quyết định cấm tiếp
xúc có hiệu lực ngay sau khi ký và được gửi cho người có hành vi bạo lực gia
đình, nạn nhân bạo lực gia đình, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã, người đứng
đầu cộng đồng dân cư nơi cư trú của nạn nhân bạo lực gia đình và Viện kiểm sát
nhân dân cùng cấp.
3. Toà án nhân dân đã ra
quyết định cấm tiếp xúc huỷ bỏ quyết định đó khi có đơn yêu cầu của nạn nhân
bạo lực gia đình hoặc khi nhận thấy biện pháp này không còn cần thiết.
4. Trong trường hợp gia
đình có việc tang lễ, cưới hỏi hoặc các trường hợp đặc biệt khác mà người có
hành vi bạo lực gia đình và nạn nhân phải tiếp xúc với nhau thì người có hành
vi bạo lực gia đình phải báo cáo với người đứng đầu cộng đồng dân cư nơi cư trú
của nạn nhân bạo lực gia đình.
5. Thẩm quyền, trình tự,
thủ tục áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp cấm tiếp xúc quy định tại Điều này
được thực hiện tương tự quy định của pháp luật tố tụng dân sự về các biện pháp
khẩn cấp tạm thời.
Điều
22. Giám sát thực hiện quyết định cấm tiếp xúc
1. Khi nhận được quyết
định cấm tiếp xúc của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc của Toà án có thẩm
quyền thì người đứng đầu cộng đồng dân cư phối hợp với tổ chức có liên quan ở
cơ sở để phân công người giám sát việc thực hiện quyết định cấm tiếp xúc.
2. Người được phân công
giám sát có các nhiệm vụ sau đây:
a) Theo dõi việc thực
hiện quyết định cấm tiếp xúc giữa người có hành vi bạo lực gia đình và nạn
nhân; trường hợp phát hiện người có hành vi bạo lực gia đình tiếp xúc với nạn
nhân bạo lực gia đình thì yêu cầu người có hành vi bạo lực gia đình thực hiện
nghiêm chỉnh quyết định cấm tiếp xúc;
b) Trường hợp người có
hành vi bạo lực gia đình vẫn cố tình tiếp xúc với nạn nhân thì người được phân
công giám sát báo cáo cho người đứng đầu cộng đồng dân cư để có biện pháp buộc
người có hành vi bạo lực gia đình chấm dứt hành vi của mình.
3. Trong trường hợp
người có hành vi bạo lực gia đình được tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình
theo quy định tại khoản 4 Điều 20 và khoản 4 Điều 21 của Luật này thì các thành
viên gia đình có trách nhiệm giám sát để bảo đảm không xảy ra bạo lực gia đình.
Điều
23. Chăm sóc nạn nhân bạo lực gia đình tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
1. Khi khám và điều trị
tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, nạn nhân bạo lực gia đình được xác nhận việc
khám và điều trị nếu có yêu cầu.
2. Chi phí cho việc khám
và điều trị đối với nạn nhân bạo lực gia đình do Quỹ bảo hiểm y tế chi trả đối
với người có bảo hiểm y tế.
3. Nhân viên y tế khi
thực hiện nhiệm vụ của mình có trách nhiệm giữ bí mật thông tin về nạn nhân bạo
lực gia đình; trường hợp phát hiện hành vi bạo lực gia đình có dấu hiệu tội
phạm phải báo ngay cho người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để báo cho cơ
quan công an nơi gần nhất.
Điều
24. Tư vấn cho nạn nhân bạo lực gia đình
1. Nạn nhân bạo lực gia
đình được tư vấn về chăm sóc sức khoẻ, ứng xử trong gia đình, pháp luật và tâm
lý để giải quyết tình trạng bạo lực gia đình.
2. Cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh, cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình, cơ sở tư
vấn về phòng, chống bạo lực gia đình, cá nhân hoặc tổ chức quy định tại các
điều 27, 28, 29 và 30 của Luật này trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình
có trách nhiệm thực hiện việc tư vấn phù hợp cho nạn nhân bạo lực gia đình.
Điều
25. Hỗ trợ khẩn cấp các nhu cầu thiết yếu
Uỷ ban nhân dân cấp xã chủ trì phối hợp
với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và các tổ chức thành viên, tổ
chức xã hội khác tại địa phương và các cơ sở trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình
thực hiện hỗ trợ khẩn cấp các nhu cầu thiết yếu cho nạn nhân bạo lực gia đình
trong trường hợp cần thiết.
Mục
2
CƠ
SỞ TRỢ GIÚP NẠN NHÂN BẠO LỰC GIA ĐÌNH
Điều
26. Cơ sở trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình
1. Cơ sở trợ giúp nạn
nhân bạo lực gia đình là nơi chăm sóc, tư vấn, tạm lánh, hỗ trợ những điều kiện
cần thiết khác cho nạn nhân bạo lực gia đình.
2. Cơ sở trợ giúp nạn
nhân bạo lực gia đình bao gồm:
a) Cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh;
b) Cơ sở bảo trợ xã hội;
c) Cơ sở hỗ trợ nạn nhân
bạo lực gia đình;
d) Cơ sở tư vấn về
phòng, chống bạo lực gia đình;
đ) Địa chỉ tin cậy ở
cộng đồng.
3. Chính phủ quy định
chi tiết và hướng dẫn hoạt động trợ giúp nạn nhân của các cơ sở trợ giúp nạn
nhân bạo lực gia đình.
Điều
27. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
1. Cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh thực hiện việc chăm sóc y tế theo quy định tại Điều 23 của Luật này và tư
vấn về sức khỏe.
2. Cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh của Nhà nước, ngoài việc thực hiện quy định tại khoản 1 Điều này, tùy theo
khả năng và điều kiện thực tế, bố trí nơi tạm lánh cho nạn nhân bạo lực gia
đình trong thời gian không quá 1 ngày theo yêu cầu của nạn nhân bạo lực gia
đình.
Điều
28. Cơ
sở bảo trợ xã hội
Cơ sở bảo trợ xã hội
thực hiện việc chăm sóc, tư vấn tâm lý, bố trí nơi tạm lánh và hỗ trợ các điều
kiện cần thiết khác cho nạn nhân bạo lực gia đình.
Điều
29. Cơ sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình và cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo
lực gia đình
1. Nhà nước khuyến khích
và tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân tham gia thành lập cơ sở hỗ trợ nạn nhân
bạo lực gia đình, cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực gia đình; hỗ trợ kinh
phí cho một số cơ sở hỗ trợ, cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực gia đình theo
chương trình, kế hoạch về phòng, chống bạo lực gia đình; kinh phí hỗ trợ, đối
tượng được hỗ trợ do Chính phủ quy định.
2. Theo quy chế hoạt
động hoặc chức năng, nhiệm vụ của mình, cơ sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình,
cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực gia đình được cung cấp các dịch vụ tư vấn
về pháp luật, tâm lý, chăm sóc sức khỏe, bố trí nơi tạm lánh và các điều kiện
cần thiết khác cho nạn nhân bạo lực gia đình.
3. Cơ sở hỗ trợ nạn nhân
bạo lực gia đình, cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực gia đình phải có các
điều kiện sau đây:
a) Có cơ sở vật chất và
nhân lực chuyên môn phù hợp với nội dung hoạt động trợ giúp nạn nhân bạo lực
gia đình;
b) Có nguồn tài chính
bảo đảm chi phí cho các hoạt động trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình.
4. Nhân viên tư vấn phải
có phẩm chất đạo đức tốt và bảo đảm yêu cầu về chuyên môn theo quy định của
pháp luật đối với lĩnh vực tư vấn. Trong quá trình tư vấn cho nạn nhân bạo lực
gia đình, nhân viên tư vấn có trách nhiệm giữ bí mật thông tin về nạn nhân bạo
lực gia đình; trường hợp phát hiện hành vi bạo lực gia đình có dấu hiệu tội
phạm phải báo ngay cho người đứng đầu cơ sở để báo cho cơ quan công an nơi gần
nhất.
Điều
30. Địa chỉ tin cậy ở cộng đồng
1. Địa chỉ tin cậy ở
cộng đồng là cá nhân, tổ chức có uy tín, khả năng và tự nguyện giúp đỡ nạn nhân
bạo lực gia đình tại cộng đồng dân cư.
2. Cá nhân, tổ chức
thông báo về việc nhận làm địa chỉ tin cậy, nơi đặt địa chỉ tin cậy với Uỷ ban
nhân dân cấp xã nơi đặt địa chỉ tin cậy.
3. Tùy theo điều kiện và
khả năng thực tế, địa chỉ tin cậy ở cộng đồng tiếp nhận nạn nhân bạo lực gia
đình, hỗ trợ, tư vấn, bố trí nơi tạm lánh cho nạn nhân và thông báo cho cơ quan
có thẩm quyền biết.
4. Uỷ ban nhân dân cấp
xã lập danh sách và công bố các địa chỉ tin cậy ở cộng đồng; thực hiện việc
hướng dẫn, tổ chức tập huấn về phòng, chống bạo lực gia đình và bảo vệ địa chỉ
tin cậy ở cộng đồng trong trường hợp cần thiết.
5. Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam xã, phường, thị trấn và các tổ chức thành viên có trách nhiệm
phối hợp với Uỷ ban nhân dân cùng cấp trong việc tuyên truyền, vận động, xây
dựng các địa chỉ tin cậy ở cộng đồng.
Chương IV
TRÁCH NHIỆM CỦA CÁ NHÂN,
GIA ĐÌNH, CƠ QUAN, TỔ CHỨC
TRONG PHÒNG, CHỐNG BẠO
LỰC GIA ĐÌNH
Điều 31. Trách nhiệm của cá nhân
1. Thực hiện quy định của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình,
hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng, chống ma túy, mại dâm và các tệ
nạn xã hội khác.
2. Kịp thời ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình và thông báo cho cơ quan,
tổ chức, người có thẩm quyền.
Điều 32. Trách nhiệm của gia đình
1. Giáo dục, nhắc nhở thành viên gia đình thực hiện quy định của pháp
luật về phòng, chống bạo lực gia đình, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới,
phòng, chống ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác.
2. Hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình; can ngăn
người có hành vi bạo lực gia đình chấm dứt hành vi bạo lực; chăm sóc nạn nhân
bạo lực gia đình.
3. Phối hợp với cơ quan, tổ chức và cộng đồng dân cư trong phòng, chống
bạo lực gia đình.
4. Thực hiện các biện pháp khác về phòng, chống bạo lực gia đình theo
quy định của Luật này.
Điều 33. Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và
các tổ chức thành viên
1. Tuyên truyền, giáo dục, khuyến khích, động viên hội viên và
nhân dân chấp hành pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, hôn
nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng, chống ma túy, mại dâm và
các tệ nạn xã hội khác.
2. Kiến nghị những biện pháp cần thiết với cơ quan nhà nước có liên quan
để thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, hôn
nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng, chống ma túy, mại dâm và
các tệ nạn xã hội khác; tham gia phòng, chống bạo lực gia đình, chăm sóc, hỗ
trợ và bảo vệ nạn nhân bạo lực gia đình.
3. Tham gia giám sát việc thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực
gia đình.
Điều 34. Trách nhiệm của Hội Liên hiệp phụ
nữ Việt Nam
1. Thực hiện trách nhiệm quy định tại Điều 33 của Luật này.
2. Tổ chức cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực gia đình, cơ sở hỗ trợ
nạn nhân bạo lực gia đình.
3. Tổ chức các hoạt động dạy nghề, tín dụng, tiết kiệm để hỗ trợ nạn
nhân bạo lực gia đình.
4. Phối hợp với cơ quan, tổ chức có liên quan để bảo vệ và hỗ trợ nạn
nhân bạo lực gia đình.
Điều 35. Cơ quan quản lý nhà nước về
phòng, chống bạo lực gia đình
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia
đình.
2. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực
hiện quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình.
3. Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có
trách nhiệm phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực
hiện quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình.
4. Uỷ ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có
trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình tại địa
phương.
5. Hằng năm, trong báo cáo của Ủy ban nhân dân cấp xã trước Hội đồng
nhân dân cùng cấp về tình hình kinh tế - xã hội phải có nội dung về tình hình
và kết quả phòng, chống bạo lực gia đình tại địa phương.
Điều 36. Trách nhiệm của Bộ Văn hóa, Thể
thao và Du lịch
1. Xây dựng và trình cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo
thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật, chương trình, kế hoạch về phòng, chống
bạo lực gia đình.
2. Chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính
phủ và Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức thực hiện
văn bản quy phạm pháp luật, chương trình, kế hoạch về phòng, chống bạo lực gia
đình.
3. Hướng dẫn thực hiện hoạt động tư vấn về gia đình ở cơ sở; việc thành
lập, giải thể cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực gia đình, cơ sở hỗ trợ nạn
nhân bạo lực gia đình.
4. Chủ trì phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan ban hành và tổ
chức thực hiện quy định về bồi dưỡng cán bộ làm công tác phòng, chống bạo lực
gia đình.
5. Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực
gia đình.
6. Thực hiện hợp tác quốc tế về phòng, chống bạo lực gia đình.
7. Chủ trì, hướng dẫn công tác tổng hợp, phân tích về tình hình phòng,
chống bạo lực gia đình; chỉ đạo thực hiện chế độ báo cáo thống kê về phòng,
chống bạo lực gia đình; chỉ đạo tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, nhân rộng các
mô hình phòng, chống bạo lực gia đình.
8. Chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan trong việc biên tập,
cung cấp thông tin về phòng, chống bạo lực gia đình.
Điều 37. Trách nhiệm của Bộ Y tế
1. Ban hành và tổ chức thực hiện quy chế
về tiếp nhận, chăm sóc y tế đối với bệnh nhân là nạn nhân bạo lực gia đình tại
các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
2. Hướng dẫn các cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh thực hiện thống kê, báo cáo các trường hợp bệnh nhân là nạn nhân bạo lực
gia đình.
3. Ban hành quy trình chữa trị nghiện rượu.
Điều 38. Trách nhiệm của Bộ Lao động,
Thương binh và Xã hội
1. Chỉ đạo việc lồng ghép nội dung phòng, chống bạo lực gia đình vào các chương
trình xoá đói giảm nghèo, đào tạo nghề, giải quyết việc làm.
2. Hướng dẫn việc thực hiện trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình tại các cơ
sở bảo trợ xã hội.
Điều 39. Trách nhiệm của Bộ Giáo dục và
Đào tạo, nhà trường và các cơ sở giáo dục khác thuộc hệ thống giáo dục quốc dân
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm chỉ đạo việc lồng ghép kiến
thức phòng, chống bạo lực gia đình vào các chương trình giáo dục, đào tạo phù
hợp với yêu cầu của từng ngành học, cấp học.
2. Nhà trường và các cơ sở giáo dục khác thuộc hệ thống giáo dục quốc
dân có trách nhiệm thực hiện chương trình giáo dục lồng ghép kiến thức phòng,
chống bạo lực gia đình.
Điều 40. Trách nhiệm của Bộ Thông tin và
Truyền thông và các cơ quan thông tin đại chúng
1. Bộ Thông tin và Truyền thông có trách nhiệm chỉ đạo
các cơ quan thông tin đại chúng thông tin, tuyên truyền chính sách, pháp luật
về phòng, chống bạo lực gia đình.
2. Cơ quan thông tin đại chúng có trách nhiệm thông tin kịp thời, chính
xác chính sách, pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình.
Điều 41. Trách nhiệm của cơ quan Công an,
Tòa án, Viện kiểm sát
Cơ quan Công an, Tòa án, Viện kiểm sát trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn
của mình chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức có liên quan thực hiện việc bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nạn nhân bạo lực gia đình; chủ động phòng ngừa,
kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về phòng,
chống bạo lực gia đình; phối hợp, tạo điều kiện cho cơ quan quản lý nhà nước về
phòng, chống bạo lực gia đình thực hiện nhiệm vụ thống kê về phòng, chống bạo
lực gia đình.
Chương V
XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP
LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG
BẠO LỰC GIA ĐÌNH
VÀ KHIẾU NẠI, TỐ CÁO
Điều 42. Xử lý người có hành vi vi phạm
pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình
1. Người có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình
tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ
luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi
thường theo quy định của pháp luật.
2. Cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân
có hành vi bạo lực gia đình nếu bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định của
khoản 1 Điều này thì bị thông báo cho người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị
có thẩm quyền quản lý người đó để giáo dục.
3. Chính phủ quy định cụ thể các hành vi vi phạm hành chính về phòng,
chống bạo lực gia đình, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với
người có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình.
Điều 43. Áp dụng các biện pháp giáo dục
tại xã, phường, thị trấn, đưa vào cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng
1. Người thường xuyên có hành vi bạo lực gia đình đã được góp ý, phê
bình trong cộng đồng dân cư mà trong thời hạn 6 tháng, kể từ ngày áp dụng biện
pháp này vẫn có hành vi bạo lực gia đình nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách
nhiệm hình sự thì có thể bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị
trấn.
2. Người có hành vi bạo lực gia đình đã bị áp dụng biện pháp giáo dục
tại xã, phường, thị trấn mà tiếp tục thực hiện hành vi bạo lực gia đình nhưng
chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì có thể bị áp dụng biện pháp
đưa vào cơ sở giáo dục; đối với người dưới 18 tuổi thì có thể bị áp dụng biện
pháp đưa vào trường giáo dưỡng.
3. Thẩm quyền, thời hạn, trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp giáo dục
tại xã, phường, thị trấn, đưa vào cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng được thực
hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
Điều 44. Khiếu nại, tố cáo và giải quyết
khiếu nại, tố cáo
Việc khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với các hành
vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình được thực hiện theo quy
định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.
Chương VI
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 45. Hiệu lực thi hành
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2008.
Điều 46. Hướng dẫn thi hành
Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật này.
Luật
này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp
thứ 2 thông qua ngày 21 tháng 11 năm 2007.
|
|
CHỦ
TỊCH QUỐC HỘI
(đã ký)
Nguyễn Phú Trọng
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
cảm ơn bạn đã đóng góp cho BLOG ngày càng hoàn thiện!