LUẬT
THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
CỦA QUỐC HỘI KHÓA XII, KỲ HỌP THỨ TƯ
SỐ 26/2008/QH12 NGÀY 14 THÁNG 11 NĂM 2008
Căn
cứ Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi,
bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;
Quốc hội ban hành Luật thi
hành án dân sự.
CHƯƠNG
I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Luật này quy định nguyên tắc, trình tự, thủ tục
thi hành bản án, quyết định dân sự, hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu
tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định
dân sự trong bản án, quyết định hình sự, phần tài sản trong bản án, quyết định
hành chính của Toà án, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài
sản của bên phải thi hành án của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và quyết
định của Trọng tài thương mại (sau đây gọi chung là bản án, quyết định); hệ
thống tổ chức thi hành án dân sự và Chấp hành viên; quyền, nghĩa vụ của người
được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động thi
hành án dân sự.
Điều 2. Bản án, quyết định được thi hành
Những bản án, quyết định được thi hành theo Luật
này bao gồm:
1. Bản án, quyết
định quy định tại Điều 1 của Luật này đã có hiệu lực pháp luật:
a) Bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết
định của Toà án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc
thẩm;
b) Bản án, quyết định của Toà án cấp phúc thẩm;
c) Quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Toà
án;
d) Bản án, quyết định dân sự của Toà án nước
ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài đã được Toà án Việt Nam công nhận và
cho thi hành tại Việt Nam;
đ) Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội
đồng xử lý vụ việc cạnh tranh mà sau 30 ngày kể từ ngày có hiệu lực pháp luật
đương sự không tự nguyện thi hành, không khởi kiện tại Toà án;
e) Quyết định của Trọng tài thương mại.
2. Những bản án, quyết định sau đây của Toà án
cấp sơ thẩm được thi hành ngay, mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị:
a) Bản án, quyết định về cấp dưỡng, trả lương,
trả công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất sức lao
động hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tổn thất về tinh thần,
nhận người lao động trở lại làm việc;
b) Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời.
Điều 3. Giải thích từ ngữ
Trong Luật
này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Đương sự bao gồm người được
thi hành án, người phải thi hành án.
2. Người được thi hành án là cá nhân, cơ
quan, tổ chức được hưởng quyền, lợi ích trong bản án, quyết định được thi hành.
3. Người phải thi hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thực hiện
nghĩa vụ trong bản án, quyết định được thi hành.
4. Người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án của
đương sự.
5. Thời hiệu yêu cầu thi hành án là thời hạn mà người được thi hành
án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức
thi hành án; hết thời hạn đó thì mất quyền
yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án theo quy định của Luật
này.
6. Có
điều kiện thi hành án là trường hợp người phải thi hành án có tài sản, thu
nhập để thi hành nghĩa vụ về tài sản; tự mình hoặc thông qua người khác thực
hiện nghĩa vụ thi hành án.
7. Phí
thi hành án là khoản tiền mà người được thi hành án phải nộp khi nhận được
tiền, tài sản theo bản án, quyết định.
8. Chi phí cưỡng chế thi hành án là các
khoản chi phí do người phải thi hành án chịu để tổ chức cưỡng chế thi hành án,
trừ trường hợp pháp luật quy định chi phí cưỡng chế thi hành án do người được
thi hành án hoặc do ngân sách nhà nước chi trả.
Điều 4. Bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định
Bản án, quyết định quy định tại Điều 2 của Luật
này phải được cơ quan, tổ chức và mọi công dân tôn trọng.
Cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan trong phạm
vi trách nhiệm của mình chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định và phải chịu
trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án.
Điều 5. Bảo đảm quyền, lợi ích
hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Trong quá trình thi hành án, quyền, lợi ích hợp
pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được tôn trọng và
được pháp luật bảo vệ.
Điều 6. Thoả thuận thi hành án
1. Đương sự có quyền thoả thuận về việc thi hành
án, nếu thoả thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo
đức xã hội. Kết quả thi hành án theo thoả thuận được công nhận.
Theo yêu cầu của đương sự, Chấp hành viên có
trách nhiệm chứng kiến việc thoả thuận về thi hành án.
2. Trường hợp đương sự không thực hiện đúng thoả
thuận thì có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thi hành phần nghĩa vụ
chưa được thi hành theo nội dung bản án, quyết định.
Điều 7. Quyền yêu cầu thi hành
án
Người được thi hành án, người phải thi hành án
căn cứ vào bản án, quyết định có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ
chức thi hành án.
Điều 8. Tiếng nói và chữ viết dùng
trong thi hành án dân sự
1. Tiếng nói và chữ viết dùng trong thi hành án dân
sự là tiếng Việt.
Đương sự có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình nhưng
phải có người phiên dịch. Đương sự là người dân tộc thiểu số mà không biết
tiếng Việt thì cơ quan thi hành án dân sự phải bố trí phiên dịch.
2. Người phiên dịch
phải dịch đúng nghĩa, trung thực, khách quan, nếu cố ý dịch sai
thì phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.
Điều 9. Tự nguyện và cưỡng chế thi hành án
1. Nhà nước
khuyến khích đương sự tự nguyện thi hành án.
2. Người phải thi hành án có điều kiện thi hành
án mà không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của
Luật này.
Điều 10. Trách nhiệm bồi thường thiệt
hại
Cơ quan, tổ chức và cá nhân vi phạm quy định của
Luật này mà gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Điều 11. Trách nhiệm phối hợp
của cơ quan, tổ chức, cá nhân với cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên
1. Trong
phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, nghĩa vụ của mình cơ quan, tổ chức và cá nhân có
trách nhiệm phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự trong việc thi hành án.
2. Cơ quan,
tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm thực hiện yêu cầu của cơ quan thi
hành án dân sự, Chấp hành viên theo quy định của Luật này.
Mọi hành vi
cản trở, can thiệp trái pháp luật đối với hoạt động của cơ quan thi hành án dân
sự, Chấp hành viên đều bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Điều 12. Giám sát và kiểm sát việc thi hành án
1. Quốc hội, Hội đồng nhân dân và Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam giám sát hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự và các cơ quan
nhà nước khác trong thi hành án dân
sự theo quy định của pháp luật.
2. Viện
kiểm sát các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình kiểm sát việc tuân
theo pháp luật về thi hành án của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên,
cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan đến việc thi hành án nhằm bảo đảm việc
thi hành án kịp thời, đầy đủ, đúng pháp luật.
CHƯƠNG II
HỆ THỐNG TỔ CHỨC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
VÀ CHẤP HÀNH VIÊN
VÀ CHẤP HÀNH VIÊN
Điều 13. Hệ thống tổ chức thi
hành án dân sự
Hệ thống tổ chức thi hành án dân sự bao gồm:
1. Cơ quan quản lý thi hành án dân sự:
a) Cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ
Tư pháp;
b) Cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc
phòng.
2. Cơ quan thi hành án dân sự:
a) Cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
(sau đây gọi chung là cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh);
b) Cơ quan thi hành án dân sự huyện, quận, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cơ quan thi hành án dân sự cấp
huyện);
c) Cơ quan thi hành án quân khu và tương đương (sau
đây gọi chung là cơ quan thi hành án cấp quân khu).
Chính phủ quy định nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý thi
hành án dân sự; tên gọi, cơ cấu, tổ chức cụ thể của cơ quan thi hành án dân sự.
Điều 14. Nhiệm vụ,
quyền hạn của cơ
quan thi hành án dân sự cấp tỉnh
1. Quản lý, chỉ đạo về thi hành án dân sự trên
địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, bao gồm:
a) Bảo đảm việc áp dụng thống nhất các quy
định của pháp luật trong hoạt động thi hành án dân sự;
b) Chỉ đạo hoạt động thi hành án dân sự đối
với cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện; hướng dẫn nghiệp vụ thi hành án dân
sự cho Chấp hành viên, công chức khác của cơ quan thi hành án dân sự trên địa bàn;
c) Kiểm tra công tác thi hành án dân sự đối
với cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện;
d) Tổng kết thực tiễn thi hành án dân sự; thực hiện chế độ thống kê, báo cáo công tác tổ chức, hoạt
động thi hành án dân sự theo hướng dẫn của cơ quan
quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp.
2. Trực tiếp tổ chức thi hành bản án, quyết
định theo quy định tại Điều 35 của Luật này.
3. Lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ
thi hành án dân sự; phối hợp với cơ quan Công an trong việc lập hồ sơ đề nghị
xét miễn, giảm chấp hành hình phạt tù và đặc xá cho người có nghĩa vụ thi hành
án dân sự đang chấp hành hình phạt tù.
4. Giải quyết khiếu nại, tố
cáo về thi hành án dân sự thuộc thẩm quyền theo quy định của Luật này.
5. Thực hiện quản lý công
chức, cơ sở vật chất, kinh phí, phương tiện hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự tại địa phương
theo hướng dẫn, chỉ đạo của cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp.
6. Giúp Ủy ban nhân dân cùng
cấp thực hiện trách nhiệm, quyền hạn theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 173 của Luật này.
7. Báo cáo công tác thi hành
án dân sự trước Hội đồng nhân dân cùng cấp khi có yêu cầu.
Điều 15. Nhiệm vụ,
quyền hạn của cơ quan thi hành án cấp quân khu
1. Trực tiếp tổ chức thi hành bản án, quyết
định theo quy định tại Điều 35 của Luật này.
2. Tổng kết thực tiễn công
tác thi hành án theo thẩm quyền; thực hiện chế độ thống kê, báo cáo công tác tổ
chức, hoạt động thi hành án dân sự theo hướng dẫn
của cơ quan quản lý thi hành án
thuộc Bộ Quốc phòng.
3. Giải quyết khiếu nại, tố
cáo về thi hành án thuộc thẩm quyền theo quy định của Luật này.
4. Phối hợp với các cơ quan
chức năng của quân khu trong việc quản lý cán bộ, cơ sở vật chất, kinh phí và phương tiện hoạt động của cơ quan thi hành án cấp quân khu theo hướng
dẫn, chỉ đạo của cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng.
5. Lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ
thi hành án dân sự; phối hợp với cơ quan thi hành án phạt tù trong quân đội trong việc lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm chấp hành hình phạt tù và đặc xá cho người có
nghĩa vụ thi hành án dân sự đang chấp hành hình phạt tù.
6. Giúp Tư
lệnh quân khu và tương đương thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 172 của Luật này.
Điều 16. Nhiệm vụ,
quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện
1. Trực tiếp tổ chức thi hành các bản án,
quyết định theo quy định tại Điều 35 của Luật này.
2. Giải quyết khiếu nại, tố
cáo về thi hành án dân sự thuộc thẩm quyền theo quy định của Luật này.
3. Thực hiện quản lý công
chức, cơ sở vật chất, kinh phí và phương tiện hoạt động được giao theo hướng
dẫn, chỉ đạo của cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh.
4. Thực hiện chế độ thống
kê, báo cáo công tác tổ chức, hoạt động thi hành án theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của cơ quan thi hành
án dân sự cấp tỉnh.
5. Lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ
thi hành án dân sự.
6. Giúp Ủy ban nhân dân cùng
cấp thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 174 của Luật này.
7. Báo cáo công tác thi hành
án dân sự trước Hội đồng nhân dân khi có yêu cầu.
Điều 17. Chấp hành viên
1. Chấp hành viên là người
được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định theo quy định tại Điều 2 của Luật này. Chấp hành viên
có ba ngạch là Chấp hành viên sơ cấp, Chấp hành viên trung cấp và Chấp hành
viên cao cấp.
2. Chấp hành viên do Bộ
trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm.
3. Chính phủ
quy định trình tự,
thủ tục thi tuyển, bổ nhiệm Chấp hành viên.
Điều 18. Tiêu chuẩn bổ
nhiệm Chấp hành viên
1. Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, trung thực, liêm khiết, có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ cử nhân luật trở lên, có sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ được giao
thì có thể được bổ nhiệm làm Chấp hành viên.
2. Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1
Điều này và có đủ các điều kiện sau thì được bổ nhiệm làm Chấp hành viên sơ
cấp:
a) Có thời gian
làm công tác pháp luật từ 03 năm trở lên;
b) Đã được đào
tạo nghiệp vụ thi hành án dân sự;
c) Trúng tuyển kỳ thi tuyển Chấp hành viên sơ cấp.
3. Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều này và
có đủ các điều kiện sau thì được bổ nhiệm làm Chấp hành viên trung cấp:
a) Có thời gian làm Chấp
hành viên sơ cấp từ 05 năm trở lên;
b) Trúng tuyển kỳ thi tuyển Chấp hành viên trung cấp.
4. Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều này và
có đủ các điều kiện sau thì được bổ nhiệm làm
Chấp hành viên cao cấp:
a) Có thời gian làm Chấp hành viên trung cấp từ 05 năm trở
lên;
b) Trúng tuyển kỳ thi tuyển
Chấp hành viên cao cấp.
5. Người có đủ tiêu chuẩn
quy định tại khoản 2 Điều này, là sỹ quan quân đội tại ngũ thì được bổ nhiệm
làm Chấp hành viên trong quân đội.
Tiêu chuẩn để được bổ nhiệm Chấp hành viên sơ cấp, Chấp hành viên trung
cấp và Chấp hành viên cao cấp trong quân đội được thực hiện theo quy định tại các khoản 2, 3
và 4 Điều này.
6. Người đang là Thẩm phán, Kiểm sát
viên, Điều tra viên chuyển công tác đến cơ quan thi hành án dân sự có thể được
bổ nhiệm làm Chấp hành viên ở ngạch tương đương mà không qua thi tuyển.
7. Trường hợp đặc biệt do
Chính phủ quy định, người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều này, đã có
thời gian làm công tác pháp luật từ 10 năm trở lên thì có thể được bổ nhiệm
Chấp hành viên trung cấp hoặc đã có thời gian làm công tác pháp luật từ 15 năm
trở lên thì có thể được bổ nhiệm Chấp
hành viên cao cấp.
Điều 19. Miễn nhiệm Chấp hành viên
1.
Chấp hành viên đương nhiên được miễn nhiệm trong trường hợp nghỉ hưu hoặc
chuyển công tác đến cơ quan khác.
2.
Bộ trưởng Bộ Tư pháp xem xét, quyết định miễn nhiệm Chấp hành viên trong các
trường hợp sau đây:
a)
Do hoàn cảnh gia đình hoặc sức khỏe mà xét thấy không thể bảo đảm hoàn thành
nhiệm vụ Chấp hành viên;
b) Năng lực chuyên môn,
nghiệp vụ không bảo đảm thực hiện nhiệm vụ Chấp hành viên hoặc vì lý do khác mà
không còn đủ tiêu chuẩn để làm Chấp hành viên.
3. Chính phủ
quy định trình tự,
thủ tục miễn nhiệm Chấp hành viên.
Điều
20. Nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên
1. Kịp thời tổ chức thi hành vụ việc được phân công; ra các quyết
định về thi hành án theo thẩm quyền.
2. Thi hành
đúng nội dung bản án, quyết định; áp dụng đúng các quy định của pháp luật về
trình tự, thủ tục thi hành án, bảo đảm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp
pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; thực hiện nghiêm
chỉnh chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp Chấp hành viên.
3. Triệu tập đương sự, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan để giải quyết việc thi hành án.
4. Xác minh tài sản, điều kiện
thi hành án của người phải thi hành án; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có
liên quan cung cấp tài liệu để xác minh địa chỉ, tài sản của người phải thi
hành án hoặc phối hợp với cơ quan có liên quan xử lý vật chứng, tài sản và
những việc khác liên quan đến thi hành án.
5. Quyết định áp dụng biện
pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành án; lập kế hoạch cưỡng
chế thi hành án; thu giữ tài sản thi hành án.
6. Yêu cầu cơ quan Công an tạm
giữ người chống đối việc thi hành án theo quy định của pháp luật.
7. Lập biên bản về hành vi vi
phạm pháp luật về thi hành án; xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền; kiến
nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy
cứu trách nhiệm hình sự đối với người vi phạm.
8. Quyết định áp dụng biện
pháp cưỡng chế để thu hồi tiền, tài sản đã chi trả cho đương sự không đúng quy
định của pháp luật, thu phí thi hành án và các khoản phải nộp khác.
9. Được sử dụng công cụ hỗ trợ
trong khi thi hành công vụ theo quy định của Chính phủ.
10. Thực hiện nhiệm vụ khác theo sự phân công của
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự.
Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Chấp
hành viên phải tuân theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc
thi hành án và được pháp luật bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và
uy tín.
Điều 21.
Những việc Chấp hành viên không được làm
1. Những việc mà pháp luật quy định công chức không được làm.
2. Tư vấn cho đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan dẫn
đến việc thi hành án trái pháp luật.
3. Can thiệp trái pháp luật vào việc giải quyết
vụ việc thi hành án hoặc lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động đến người có
trách nhiệm thi hành án.
4. Sử dụng trái phép vật chứng, tiền, tài sản thi hành án.
5. Thực hiện việc thi hành án liên quan đến
quyền, lợi ích của bản thân và những người sau đây:
a) Vợ, chồng, con đẻ, con nuôi;
b) Cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, ông nội, bà
nội, ông ngoại, bà ngoại, bác, chú, cậu, cô, dì và anh, chị, em ruột của Chấp
hành viên, của vợ hoặc chồng của Chấp hành viên;
c) Cháu ruột mà Chấp hành viên là ông, bà, bác,
chú, cậu, cô, dì.
6. Sử dụng thẻ Chấp hành viên, trang phục, phù hiệu thi hành án, công cụ hỗ trợ
để làm những việc không thuộc nhiệm vụ, quyền hạn được giao.
7. Sách nhiễu, gây phiền hà cho cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá
trình thực hiện nhiệm vụ thi hành án.
8. Cố ý thi hành trái nội dung bản án, quyết
định; trì hoãn hoặc kéo dài thời gian giải quyết việc thi hành án được giao
không có căn cứ pháp luật.
Điều
22. Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự
1. Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án
dân sự phải là Chấp hành viên. Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án
dân sự do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm, miễn nhiệm; Thủ trưởng, Phó thủ trưởng
cơ quan thi hành án trong quân đội do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng bổ nhiệm, miễn
nhiệm.
2. Chính phủ quy định tiêu chuẩn, trình tự, thủ
tục bổ nhiệm, miễn nhiệm Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự
và cơ quan thi hành án trong quân đội.
Điều 23. Nhiệm vụ, quyền hạn của
Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự
1. Thủ
trưởng cơ quan thi hành án dân sự có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Ra quyết
định về thi hành án theo thẩm quyền;
b) Quản lý,
chỉ đạo hoạt động thi hành án dân sự của cơ quan thi hành án dân sự;
c) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân phối hợp tổ
chức thi hành án;
d) Yêu cầu cơ quan đã ra bản án, quyết định giải
thích bằng văn bản những điểm chưa rõ hoặc không phù hợp với thực tế trong bản
án, quyết định đó để thi hành;
đ) Kiến nghị người có thẩm quyền kháng nghị theo
thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với bản án, quyết định theo quy định
của pháp luật;
e) Trả lời kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm
sát; giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án, xử phạt vi phạm hành chính
theo thẩm quyền; kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý kỷ luật, xử
phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người vi
phạm;
g) Thực hiện nhiệm vụ, quyền
hạn của Chấp hành viên;
h) Tổ chức thực hiện chế độ
báo cáo, thống kê thi hành án;
i) Thủ trưởng cơ quan thi hành
án dân sự cấp tỉnh có quyền điều động, hướng dẫn nghiệp vụ, chỉ đạo, kiểm tra
công tác thi hành án đối với Chấp hành viên, công chức cơ quan thi hành án dân
sự cấp tỉnh và cấp huyện trên địa bàn và những việc khác theo hướng dẫn, chỉ
đạo của cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp.
2. Phó
thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo sự
phân công hoặc ủy quyền của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự và chịu trách nhiệm trong phạm vi công
việc được giao.
Điều 24. Biên chế, kinh phí, cơ sở vật chất của
cơ quan thi hành án dân sự
Nhà nước bảo đảm biên chế, kinh phí, trụ sở làm
việc, công cụ hỗ trợ thi hành án, ứng dụng công nghệ thông tin và phương tiện,
trang thiết bị cần thiết khác cho cơ quan thi hành án dân sự.
Điều
25. Trang phục, phù hiệu, chế độ đối với công chức làm công tác thi hành án dân
sự
Chấp hành viên, Thẩm tra viên và công chức khác
làm công tác thi hành án dân sự được cấp trang phục, phù hiệu để sử dụng trong
khi thi hành công vụ, được hưởng tiền lương, chế độ phụ cấp phù hợp với nghề
nghiệp và chế độ ưu đãi khác theo quy định của Chính phủ.
CHƯƠNG III
THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Điều 26. Hướng dẫn
quyền yêu cầu thi hành án dân sự
Khi ra bản án, quyết định,
Toà án, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, Trọng tài thương mại phải giải thích
cho đương sự, đồng thời ghi rõ trong bản án, quyết định về quyền yêu cầu thi
hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án.
Điều 27. Cấp bản án, quyết định
Toà án, Hội đồng xử lý vụ
việc cạnh tranh, Trọng tài thương mại đã ra bản án, quyết định được quy định
tại Điều 2 của Luật này phải cấp cho đương sự bản án, quyết định có ghi “Để thi
hành".
Điều 28. Chuyển giao bản án, quyết
định
1. Đối với bản án, quyết
định quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 2 của Luật này thì Toà án
đã ra bản án, quyết định phải chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự có
thẩm quyền trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực
pháp luật.
2. Đối với bản án, quyết
định được thi hành theo quy định tại điểm
a khoản 2 Điều 2 của Luật này thì Toà án đã ra bản án, quyết định phải
chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra bản án, quyết
định.
3. Đối với quyết định áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Toà án đã ra quyết định phải chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự
ngay sau khi ra quyết định.
4. Trường hợp cơ quan có
thẩm quyền đã kê biên tài sản, tạm giữ tài sản, thu giữ vật chứng hoặc thu giữ
các tài liệu khác có liên quan đến việc thi hành án thì khi chuyển giao bản án,
quyết định cho cơ quan thi hành án dân sự, Toà án phải gửi kèm theo bản sao
biên bản về việc kê biên, tạm giữ tài sản, thu giữ vật chứng hoặc tài liệu khác
có liên quan.
Điều 29. Thủ tục nhận
bản án, quyết định
Khi nhận bản án, quyết định
do Toà án chuyển giao, cơ quan thi hành án dân sự phải kiểm tra, vào sổ nhận bản án, quyết định.
Sổ nhận bản án, quyết định
phải ghi rõ số thứ tự; ngày, tháng, năm nhận bản án, quyết định; số, ngày,
tháng, năm của bản án, quyết định và tên Toà án đã ra bản án, quyết định; họ, tên, địa chỉ của đương sự và tài liệu khác có liên quan.
Việc giao, nhận trực tiếp bản án, quyết định phải có chữ ký
của hai bên. Trong trường hợp nhận được bản án, quyết định và tài liệu có liên
quan bằng đường bưu điện thì cơ quan thi hành án dân sự phải thông báo bằng văn
bản cho Toà án đã chuyển giao biết.
Điều 30. Thời hiệu yêu
cầu thi hành án
1. Trong thời hạn 05 năm, kể
từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án, người
phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra
quyết định thi hành án.
Trường hợp thời hạn thực
hiện nghĩa vụ được ấn định trong bản án, quyết định thì thời hạn 05 năm được
tính từ ngày nghĩa vụ đến hạn.
Đối với bản án, quyết định
thi hành theo định kỳ thì thời hạn 05 năm được áp dụng cho từng định kỳ, kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn.
2. Đối với các trường hợp
hoãn, tạm đình chỉ thi hành án theo quy định của Luật này thì thời gian hoãn,
tạm đình chỉ không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án, trừ trường hợp người
được thi hành án đồng ý cho người phải thi hành án hoãn thi hành án.
3. Trường hợp người yêu cầu
thi hành án chứng minh được do trở ngại khách quan hoặc do sự kiện bất khả
kháng mà không thể yêu cầu thi hành án đúng thời hạn thì thời gian có trở ngại
khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành
án.
Điều 31. Đơn yêu cầu
thi hành án
1. Đơn yêu cầu thi hành án
có các nội dung chính sau đây:
a) Họ, tên, địa
chỉ của người yêu cầu;
b) Tên cơ quan
thi hành án dân sự nơi yêu cầu;
c) Họ, tên, địa chỉ của
người được thi hành án; người phải thi hành án;
d) Nội dung yêu cầu thi hành
án;
đ) Thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành án
của người phải thi hành án.
2. Người làm đơn yêu cầu thi
hành án phải ghi rõ ngày, tháng,
năm và ký tên hoặc điểm chỉ; trường hợp là pháp nhân thì phải có chữ ký của
người đại diện hợp pháp và đóng dấu của pháp nhân.
Trường hợp người yêu cầu thi
hành án trực tiếp trình bày bằng lời nói tại cơ quan thi hành án dân sự thì
phải lập biên bản ghi rõ các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, có chữ ký
hoặc điểm chỉ của người yêu cầu và chữ ký của người lập biên bản. Biên bản có
giá trị như đơn yêu cầu thi hành án.
Kèm theo đơn yêu cầu thi
hành án, phải có bản án, quyết định được yêu cầu thi hành và tài liệu khác có
liên quan, nếu có.
3. Người yêu cầu thi hành án
có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành
án quy định tại Điều 66 của Luật này.
Điều 32. Thủ tục gửi
đơn yêu cầu thi hành án
1. Người yêu cầu thi hành án
tự mình hoặc uỷ quyền cho người khác yêu cầu thi hành án bằng một trong các hình thức sau đây:
a) Nộp đơn hoặc trực tiếp
trình bày bằng lời nói tại cơ quan thi hành án dân sự;
b) Gửi đơn qua bưu điện.
2. Ngày gửi đơn yêu cầu thi
hành án được tính từ ngày người yêu cầu thi hành án nộp đơn hoặc trình bày trực
tiếp tại cơ quan thi hành án dân sự hoặc ngày có dấu bưu điện nơi gửi.
Điều 33. Nhận đơn yêu
cầu thi hành án
1. Khi nhận đơn yêu cầu thi
hành án, cơ quan thi hành án dân sự phải kiểm tra nội dung đơn và các tài liệu
kèm theo, vào sổ nhận
đơn yêu cầu thi hành án và cấp giấy biên nhận cho người nộp đơn.
2. Sổ nhận đơn yêu cầu thi
hành án phải thể hiện đầy đủ các nội dung sau đây:
a) Ngày, tháng, năm nhận đơn
yêu cầu;
b) Số, ngày, tháng, năm ra
bản án, quyết định; tên cơ quan ra bản án, quyết định;
c) Họ, tên, địa chỉ của
người yêu cầu;
d) Họ, tên, địa chỉ của
người phải thi hành án; người được thi hành án;
đ) Nội dung yêu cầu thi hành
án;
e) Tài liệu khác kèm theo.
Điều 34. Từ chối nhận
đơn yêu cầu thi hành án
1. Cơ quan thi hành án dân
sự từ chối nhận đơn yêu cầu thi hành án trong các trường hợp sau đây:
a) Người yêu cầu thi hành án
không có quyền yêu cầu thi hành án hoặc nội dung đơn yêu cầu thi hành án không
liên quan đến nội dung của bản án, quyết định;
b) Cơ quan thi hành án dân
sự được yêu cầu không có thẩm quyền thi hành án;
c) Hết thời hiệu yêu cầu thi hành án.
2. Cơ quan thi
hành án dân sự từ chối nhận đơn yêu cầu thi hành án
phải thông báo bằng văn bản cho người nộp đơn yêu cầu thi hành án.
Điều 35. Thẩm quyền thi
hành án
1. Cơ quan thi hành án dân
sự cấp huyện có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định sau đây:
a) Bản án, quyết định sơ
thẩm của Toà án cấp huyện nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ
sở;
b) Bản án, quyết định phúc
thẩm của Tòa án cấp tỉnh đối với bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án cấp
huyện nơi cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện có trụ sở;
c) Quyết định giám đốc thẩm,
tái thẩm của Tòa án cấp tỉnh đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật của Toà án cấp huyện nơi cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện có trụ sở;
d) Bản án, quyết định do cơ
quan thi hành án dân sự cấp huyện nơi khác, cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án cấp quân khu ủy
thác.
2. Cơ quan thi hành án dân
sự cấp tỉnh có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định sau đây:
a) Bản án, quyết định sơ
thẩm của Toà án cấp tỉnh trên cùng địa bàn;
b) Bản án, quyết định của
Toà án nhân dân tối cao chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh;
c) Bản án, quyết định của
Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài được Toà án công nhận và
cho thi hành tại Việt Nam;
d) Quyết định của Trọng tài
thương mại;
đ) Quyết định xử lý vụ việc
cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh;
e) Bản án, quyết định do cơ
quan thi hành án dân sự nơi khác hoặc cơ quan thi hành án cấp quân khu ủy thác;
g) Bản án, quyết định thuộc thẩm quyền thi hành của cơ
quan thi hành án dân sự cấp huyện quy định tại khoản 1 Điều này mà thấy cần
thiết lấy lên để thi hành;
h) Bản án, quyết định quy định tại khoản 1 Điều
này mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải uỷ thác tư pháp về
thi hành án.
3. Cơ quan thi hành án cấp
quân khu có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định sau đây:
a) Quyết định về hình phạt
tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật
chứng, tài sản, án phí và
quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự của Toà án quân sự quân khu
và tương đương trên địa bàn;
b) Quyết định về hình phạt
tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật
chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự
của Toà án quân sự khu vực trên địa bàn;
c) Quyết định về hình phạt
tiền, tịch thu tài sản, xử lý vật chứng, tài sản, truy thu tiền, tài sản thu
lợi bất chính, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự của
Toà án quân sự trung ương chuyển giao cho cơ quan thi hành án cấp quân khu;
d) Bản án, quyết định dân sự
của Toà án nhân dân tối cao chuyển giao cho cơ quan thi hành án cấp quân khu;
đ) Bản án, quyết định do cơ
quan thi hành án dân sự cấp tỉnh, cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện, cơ quan thi hành án cấp quân khu khác ủy thác.
Điều 36. Ra quyết định
thi hành án
1. Thủ trưởng cơ quan thi
hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành đối với phần bản án, quyết định
sau đây:
a) Hình phạt tiền, truy thu
tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí;
b) Trả lại tiền, tài sản cho
đương sự;
c) Tịch thu sung quỹ nhà
nước, tịch thu tiêu huỷ vật chứng, tài sản;
d) Thu hồi quyền sử dụng đất
và tài sản khác thuộc diện sung quỹ nhà nước;
đ) Quyết định áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được bản án,
quyết định, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định thi hành
án.
Trong thời hạn 24
giờ, kể từ khi nhận được quyết định áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời do Toà án chuyển giao hoặc do đương sự giao trực
tiếp, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định thi hành án và
phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành.
2. Ngoài các trường hợp quy
định tại khoản 1 Điều này, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chỉ ra quyết
định thi hành án khi có đơn yêu cầu thi hành án.
Thời hạn ra quyết định thi
hành án theo đơn yêu cầu là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu
thi hành án.
3. Trong thời hạn 02 ngày
làm việc, kể từ ngày ra quyết định thi hành án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án
dân sự phải phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành quyết định thi hành án
đó.
Điều 37. Thu hồi, sửa đổi, bổ sung,
huỷ quyết định về thi hành án
1. Người có thẩm quyền ra quyết định về thi hành án ra quyết định thu hồi
quyết định về thi hành án trong các trường hợp sau đây:
a) Quyết định về thi hành án được ban hành không đúng thẩm quyền;
b) Quyết định về thi hành án có sai sót làm thay đổi nội dung vụ việc;
c) Căn cứ ra quyết định về thi hành án không còn;
d) Trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 54 của Luật này.
2. Người có thẩm quyền ra quyết định về thi hành án, người có thẩm quyền
giải quyết khiếu nại có quyền ra quyết định sửa đổi, bổ sung hoặc yêu cầu sửa
đổi, bổ sung quyết định về thi hành án trong trường hợp quyết định về thi hành
án có sai sót mà không làm thay đổi nội dung vụ việc thi hành án.
3. Người có thẩm quyền ra quyết định về thi hành án, người có thẩm quyền
giải quyết khiếu nại có quyền ra quyết định huỷ hoặc yêu cầu huỷ quyết định về
thi hành án của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp dưới, Chấp hành viên
thuộc quyền quản lý trực tiếp trong các trường hợp sau đây:
a) Phát hiện các trường hợp quy định tại các khoản 1 và khoản 2 Điều này
mà Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp dưới, Chấp hành viên thuộc quyền
quản lý trực tiếp không tự khắc phục sau khi có yêu cầu;
b) Quyết định về thi hành án có vi phạm pháp luật theo kết luận của cơ
quan có thẩm quyền.
4. Quyết định thu hồi, sửa
đổi, bổ sung, huỷ bỏ quyết định về thi hành án phải ghi rõ căn cứ, nội dung và
hậu quả pháp lý của việc thu hồi, sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ.
Điều 38. Gửi quyết định về thi hành
án
Quyết định về thi hành án
phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp.
Quyết định cưỡng chế thi
hành án phải được gửi cho Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi
chung là Uỷ ban nhân dân cấp xã) nơi tổ chức cưỡng chế thi hành án hoặc cơ
quan, tổ chức có liên quan đến việc thực hiện quyết định cưỡng chế thi hành án.
Điều 39. Thông báo về thi hành án
1. Quyết định về thi hành
án, giấy báo, giấy triệu tập và văn bản khác có liên quan đến việc thi hành án
phải thông báo cho đương sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan để họ thực hiện
quyền, nghĩa vụ theo nội dung của văn bản đó.
2. Việc thông báo phải thực
hiện trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra văn bản, trừ trường hợp cần
ngăn chặn đương sự tẩu tán, huỷ hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án.
3. Việc thông báo được thực
hiện theo các hình thức sau đây:
a) Thông báo trực tiếp hoặc
qua cơ quan, tổ chức, cá nhân khác theo quy định của pháp luật;
b) Niêm yết công khai;
c) Thông báo trên các phương tiện thông tin
đại chúng.
4. Chi phí thông báo do người phải thi hành án chịu, trừ
trường hợp pháp luật quy định ngân sách nhà nước chi trả hoặc người được thi
hành án chịu.
Điều 40. Thủ tục thông báo trực tiếp cho cá nhân
1. Văn bản thông báo cho cá
nhân phải được giao trực tiếp và yêu cầu người đó ký nhận hoặc điểm chỉ.
2. Trường hợp người được
thông báo vắng mặt thì văn bản thông báo được giao cho một trong số những người thân thích có đủ năng lực hành vi
dân sự cùng cư trú với người đó, bao gồm vợ, chồng, con, ông, bà, cha, mẹ, bác, chú, cô, cậu, dì, anh, chị, em của
đương sự, của vợ hoặc chồng của đương sự.
Việc giao thông
báo phải lập thành biên bản. Ngày lập biên bản là ngày được thông báo hợp lệ.
Trường hợp người được thông
báo không có người thân thích có đủ năng lực hành vi dân sự cùng cư trú hoặc có nhưng người đó
từ chối nhận văn bản thông báo hoặc người được thông báo vắng mặt mà không rõ
thời điểm trở về thì người thực hiện thông báo phải lập biên bản về việc không
thực hiện được thông báo, có chữ ký của người chứng kiến và thực hiện việc niêm
yết công khai theo quy định tại Điều 42 của Luật này.
3. Trường hợp người được
thông báo đã chuyển đến địa chỉ mới thì phải thông báo theo địa chỉ mới của người
được thông báo.
Điều 41. Thủ tục thông
báo trực tiếp cho cơ quan, tổ chức
Trường hợp người được thông
báo là cơ quan, tổ chức thì văn bản thông báo phải được giao trực tiếp cho
người đại diện theo pháp luật
hoặc người chịu trách nhiệm nhận văn bản của
cơ quan, tổ chức đó và phải được những người này ký nhận. Trường hợp cơ quan,
tổ chức được thông báo có người đại diện tham gia việc thi hành án hoặc cử
người đại diện nhận văn bản thông báo thì những người này ký nhận văn bản thông
báo. Ngày ký nhận là ngày được thông báo hợp lệ.
Điều 42. Niêm yết công
khai
1. Việc niêm yết công khai
văn bản thông báo chỉ được thực hiện khi không rõ địa chỉ của người được thông
báo hoặc không thể thực hiện được việc thông báo trực tiếp, trừ trường hợp pháp
luật có quy định khác.
Cơ quan thi hành án dân sự
trực tiếp hoặc ủy quyền cho Uỷ
ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của người được thông
báo hoặc cá nhân, tổ chức có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật thực hiện
việc niêm yết.
2. Việc niêm yết được thực
hiện theo thủ tục sau đây:
a) Niêm yết văn bản thông
báo tại trụ sở cơ quan thi hành án dân sự, trụ sở Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi
cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của người được thông báo;
b) Lập biên bản về việc niêm
yết công khai, trong đó ghi rõ ngày, tháng, năm niêm yết; số, ngày, tháng, năm,
tên của văn bản thông báo; có chữ ký của người chứng kiến.
3. Thời gian niêm yết công
khai văn bản thông báo là 10 ngày, kể từ ngày niêm yết. Ngày niêm yết là ngày
được thông báo hợp lệ.
Điều 43. Thông báo trên
phương tiện thông tin đại chúng
1. Thông báo trên phương
tiện thông tin đại chúng chỉ được thực hiện khi pháp luật có quy định hoặc khi
đương sự có yêu cầu.
2. Trường hợp xác định đương
sự đang có mặt tại địa phương nơi đương sự cư trú thì việc thông báo được thực hiện trên báo ngày trong hai
số liên tiếp hoặc trên đài phát thanh, đài truyền hình của tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương của địa phương đó hai lần trong 02 ngày liên tiếp.
Trường hợp xác định đương sự
không có mặt tại địa phương nơi
đương sự cư trú thì việc thông báo được thực hiện trên báo
ngày trong hai số liên tiếp hoặc trên đài phát thanh, đài truyền hình của trung
ương hai lần trong 02 ngày liên tiếp.
3. Ngày thực hiện việc thông
báo lần hai trên phương tiện thông tin đại chúng là ngày được thông báo hợp lệ.
Điều 44. Xác minh điều kiện thi hành án
1. Trường
hợp chủ động ra quyết định thi hành án, Chấp hành viên phải tiến hành xác minh điều kiện thi hành án
của người phải thi hành án.
Trường hợp thi hành án theo
đơn yêu cầu, nếu người được thi hành án đã áp dụng các biện pháp cần thiết mà
không thể tự xác minh được điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì
có thể yêu cầu Chấp hành viên tiến hành xác minh. Việc yêu cầu này phải được
lập thành văn bản và phải ghi rõ các biện pháp đã được áp dụng nhưng không có
kết quả, kèm theo tài liệu chứng minh.
2. Trong thời hạn 10 ngày,
kể từ ngày chủ động ra quyết định thi hành án hoặc kể từ ngày nhận được yêu cầu
xác minh của người được thi hành án, Chấp hành viên phải tiến hành việc xác
minh; trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì
phải xác minh ngay.
Việc xác minh phải được lập
thành biên bản, có xác nhận của tổ trưởng tổ dân phố, Uỷ ban nhân dân, công an cấp xã hoặc cơ quan,
tổ chức nơi tiến hành xác minh. Biên bản xác minh phải thể hiện đầy đủ kết quả
xác minh.
Điều 45. Thời hạn tự
nguyện thi hành án
1. Thời hạn tự nguyện thi hành án là 15 ngày, kể từ ngày
người phải thi hành án nhận được hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành
án.
2. Trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có
hành vi tẩu tán, huỷ hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án thì Chấp
hành viên có quyền áp dụng ngay
các
biện pháp quy định tại Chương IV của Luật này.
Điều 46. Cưỡng chế thi hành án
1. Hết thời hạn quy định tại
khoản 1 Điều 45 của Luật này, người phải thi hành án có điều kiện thi hành án
mà không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế.
2. Không tổ chức cưỡng chế
thi hành án trong thời gian từ 22 giờ đến 06 giờ sáng ngày hôm sau, các ngày nghỉ, ngày lễ
theo quy định của pháp luật và các trường hợp đặc biệt khác do Chính phủ quy
định.
Điều 47. Thứ tự thanh
toán tiền thi hành án
1. Số tiền thi hành án, sau
khi trừ các chi phí thi hành án và khoản tiền quy định tại khoản 5
Điều 115 của Luật này, được thanh toán theo thứ
tự sau đây:
a) Tiền cấp dưỡng; tiền
lương, tiền công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất
sức lao động; tiền bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tổn thất về tinh thần;
b) Án phí;
c) Các khoản phải thi hành
án khác theo bản án, quyết định.
2. Trường hợp có nhiều người
được thi hành án thì việc thanh toán tiền thi hành án được thực hiện như sau:
a) Việc thanh toán được thực
hiện theo thứ tự quy định tại khoản 1 Điều này. Trường hợp trong cùng một hàng
ưu tiên có nhiều người được thi hành án thì việc thanh toán được thực hiện theo
tỷ lệ số tiền mà họ được thi hành án;
b) Số tiền thi hành án thu
theo quyết định cưỡng chế thi hành án nào thì thanh toán cho những người được
thi hành án đã có đơn yêu cầu tính đến thời điểm có quyết định cưỡng chế đó. Số
tiền còn lại được thanh toán cho những người được thi hành án theo các quyết
định thi hành án khác tính đến thời điểm thanh toán.
Số tiền còn lại được trả cho
người phải thi hành án.
3. Số tiền thu được từ việc bán tài sản cầm cố, thế chấp hoặc bán tài sản
mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành một nghĩa vụ cụ thể
được ưu tiên thanh toán cho nghĩa vụ được bảo đảm đó sau khi trừ các chi phí về
thi hành án.
4. Thứ tự thanh toán tiền
thi hành án về phá sản được thực
hiện theo quy định của pháp luật về phá sản.
5. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày thu được tiền,
Chấp hành viên phải thực hiện việc thanh toán tiền thi hành án quy định tại
khoản 1 và khoản 2 Điều này.
Điều 48. Hoãn thi hành
án
1. Thủ trưởng cơ quan thi
hành án dân sự ra quyết định hoãn thi hành án trong các trường hợp sau đây:
a) Người phải thi hành án bị
ốm nặng, có xác nhận của cơ sở y tế từ cấp huyện trở lên; chưa xác định được
địa chỉ của người phải thi hành án hoặc vì lý do chính đáng khác mà người phải
thi hành án không thể tự mình thực hiện được nghĩa vụ theo bản án, quyết định;
b) Người được thi hành án đồng ý cho người
phải thi hành án hoãn thi hành án. Việc đồng ý hoãn phải lập thành văn bản ghi
rõ thời hạn hoãn, có chữ ký của các bên. Trong thời gian hoãn thi hành án do có sự đồng ý của
người được thi hành án thì người phải thi hành án không phải chịu lãi suất chậm
thi hành án;
c) Người phải thi hành các
khoản nộp ngân sách nhà nước không có tài sản hoặc có tài sản nhưng giá trị tài
sản đó không đủ chi phí cưỡng chế thi hành án hoặc có tài sản nhưng tài sản
thuộc loại không được kê biên;
d) Tài sản kê biên có tranh
chấp đã được Tòa án thụ lý để giải quyết;
đ) Việc thi hành án đang
trong thời hạn cơ quan có thẩm quyền giải thích bản án, quyết định và trả lời
kiến nghị của cơ quan thi hành án dân sự theo quy định tại khoản 2 và khoản 3
Điều 179 của Luật này.
2. Thủ trưởng cơ quan
thi hành án dân sự ra quyết định hoãn
thi hành án khi nhận được yêu cầu hoãn thi hành án của người có thẩm quyền
kháng nghị ít nhất 24 giờ trước thời điểm cưỡng chế thi hành án đã được ấn định
trong quyết định cưỡng chế. Trường hợp cơ quan thi hành án nhận được yêu cầu
hoãn thi hành án của người có thẩm quyền kháng nghị ít hơn 24 giờ trước thời
điểm cưỡng chế đã được ấn định trong quyết định cưỡng chế thi hành án thì Thủ
trưởng cơ quan thi hành án dân sự có quyền quyết định hoãn thi hành án khi xét
thấy cần thiết.
Trường hợp vụ việc đã
được thi hành một phần hoặc đã được thi hành xong thì cơ quan thi hành án dân
sự phải có văn bản thông báo ngay cho người yêu cầu hoãn thi hành án.
Người có thẩm quyền
kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với bản án, quyết định
của Toà án chỉ được yêu cầu hoãn thi hành án một lần để xem xét kháng nghị nhằm tránh hậu quả không thể
khắc phục được.
Thời hạn hoãn thi hành án theo yêu cầu của
người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định không quá 03 tháng, kể từ
ngày ra văn bản yêu cầu hoãn thi hành án; trong thời gian hoãn thi
hành án thì người phải thi hành án không phải chịu lãi suất chậm thi hành án.
3. Thời hạn ra quyết định
hoãn thi hành án là 05 ngày làm việc, kể từ ngày có căn cứ hoãn thi hành án quy
định tại khoản 1 Điều này. Trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này thì phải ra
ngay quyết định hoãn thi hành án khi nhận được yêu cầu của người có thẩm quyền.
4. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ khi căn cứ hoãn thi hành án quy định tại khoản
1 Điều này không còn, hết thời hạn hoãn thi hành án theo yêu cầu của người có
thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều này hoặc khi nhận được văn bản trả lời của
người có thẩm quyền kháng nghị về việc không có căn cứ kháng nghị thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra
quyết định tiếp tục thi hành án.
Điều 49. Tạm đình chỉ thi hành án
1. Thủ trưởng cơ quan thi hành
án dân sự thông báo về việc tạm đình chỉ thi hành án khi nhận được quyết định
tạm đình chỉ thi hành án của người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định
theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.
Trường hợp bản án, quyết
định đã được thi hành một phần hoặc toàn bộ thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án
dân sự phải thông báo ngay bằng văn bản cho người đã kháng nghị.
Trong thời gian tạm đình
chỉ thi hành án do có kháng nghị thì người phải thi hành án không phải chịu lãi
suất chậm thi hành án.
2. Thủ trưởng cơ quan
thi hành án dân sự ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án khi nhận được thông
báo của Toà án về việc đã thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với người
phải thi hành án.
Thời hạn ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của Toà án.
3. Thủ trưởng cơ quan
thi hành án dân sự ra quyết định
tiếp tục thi hành án trong thời hạn 05 ngày làm việc,
kể từ ngày nhận được một trong các quyết định sau đây:
a) Quyết định rút kháng
nghị của người có thẩm quyền;
b) Quyết định giám đốc
thẩm, tái thẩm của Tòa án giữ nguyên bản án, quyết định bị kháng nghị;
c) Quyết định của Toà án về
việc đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản, đình
chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản.
Điều 50. Đình chỉ thi
hành án
1. Thủ trưởng cơ quan thi
hành án dân sự phải ra quyết định
đình chỉ thi hành án trong các trường hợp sau đây:
a) Người phải thi hành án
chết không để lại di sản hoặc theo quy định của pháp luật nghĩa vụ của người đó
theo bản án, quyết định không được chuyển giao cho người thừa kế;
b) Người được thi hành án
chết mà theo quy định của pháp luật quyền và lợi ích của người đó theo bản án,
quyết định không được chuyển giao cho người thừa kế hoặc không có người thừa
kế;
c) Đương sự có thoả thuận
bằng văn bản hoặc người được thi hành án có văn bản yêu cầu cơ quan thi hành án
dân sự không tiếp tục việc thi hành án, trừ trường hợp việc đình chỉ thi hành
án ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba;
d) Bản án, quyết định bị hủy
một phần hoặc toàn bộ;
đ) Người phải thi hành án là
tổ chức đã bị giải thể, không còn tài sản mà theo quy định của pháp luật nghĩa
vụ của họ không được chuyển giao cho tổ chức khác;
e) Có quyết định miễn hoặc
giảm một phần nghĩa vụ thi hành án;
g) Tòa án ra quyết định mở
thủ tục phá sản đối với người phải thi hành án;
h) Người chưa thành niên được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định đã thành
niên.
2. Thời hạn ra quyết định
đình chỉ thi hành án là 05 ngày làm việc, kể từ ngày có căn cứ đình chỉ thi
hành án theo quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 51. Trả đơn yêu
cầu thi hành án
1. Thủ trưởng cơ quan thi
hành án dân sự ra quyết định trả lại đơn yêu cầu thi hành án trong các trường
hợp sau đây:
a) Người
phải thi hành án không có tài sản để thi hành án hoặc có tài sản nhưng giá trị
tài sản chỉ đủ để thanh toán chi phí cưỡng chế thi hành án hoặc tài sản đó theo quy định của pháp luật
không được xử lý để thi hành án;
b) Người
phải thi hành án không có thu nhập hoặc mức thu nhập thấp, chỉ bảo đảm cuộc
sống tối thiểu cho người phải thi hành án và gia đình;
c) Tài
sản kê biên không bán được mà người được thi hành án không nhận để thi hành án;
d) Người phải thi hành án phải thi hành nghĩa vụ về trả vật đặc định nhưng vật phải trả không còn hoặc hư hỏng đến mức không thể sử dụng được mà đương sự không có thoả thuận khác.
2. Khi người phải thi hành
án có điều kiện thi hành thì người được thi hành án có quyền yêu cầu thi hành
bản án, quyết định trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 30 của Luật này, kể từ ngày phát hiện người phải
thi hành án có điều kiện thi hành.
Điều 52. Kết thúc thi
hành án
Việc thi hành án đương nhiên
kết thúc trong các trường hợp sau đây:
1. Đương sự đã thực hiện
xong quyền, nghĩa vụ của mình;
2. Có quyết định đình chỉ
thi hành án;
3. Có quyết định trả đơn yêu
cầu thi hành án.
Điều 53. Xác nhận kết quả thi hành án
Đương sự có quyền yêu cầu cơ
quan thi hành án dân sự xác nhận kết quả thi hành án.
Trong thời hạn 05 ngày làm
việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu của đương sự, Thủ trưởng cơ quan thi hành án
dân sự cấp giấy xác nhận kết quả thi hành án.
Điều 54. Chuyển giao
quyền và nghĩa vụ thi hành án
1. Việc chuyển giao quyền và
nghĩa vụ thi hành án đối với tổ chức được thực hiện như sau:
a) Trường
hợp hợp nhất thì tổ chức mới tiếp tục thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án, trừ trường hợp pháp
luật có quy định khác;
b) Trường
hợp sáp nhập thì tổ chức sáp nhập tiếp tục thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án, trừ trường hợp pháp
luật có quy định khác;
c) Trường
hợp chia, tách thì cơ quan ra quyết định chia, tách phải xác định rõ cá nhân, tổ chức tiếp tục thực
hiện quyền, nghĩa vụ
thi hành án theo quyết định chia, tách, trừ trường hợp pháp luật có quy định
khác.
Nếu quyết
định chia, tách không quy định nghĩa vụ của các tổ chức mới thì sau khi chia,
tách các tổ chức mới có trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ thi hành án của
tổ chức bị chia, tách;
d) Trường hợp giải thể thì
cơ quan có thẩm quyền ra quyết định giải thể phải thông báo cho cơ quan thi
hành án dân sự biết trước khi ra quyết định. Trường hợp quyền, nghĩa vụ thi
hành án của tổ chức bị giải thể được chuyển giao cho tổ chức khác thì tổ chức
mới tiếp tục thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án.
Cơ quan
thi hành án dân sự, người được thi hành án, người có quyền, nghĩa vụ liên quan
có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét lại quyết định giải thể theo quy
định của pháp luật.
Trường hợp tài sản để thi hành án không còn
do thực hiện quyết định giải thể trái pháp luật thì cơ quan ra quyết định giải
thể phải chịu trách nhiệm thi hành phần nghĩa vụ của tổ chức bị giải thể tương ứng với tài sản
đó;
đ) Trường hợp phá sản thì quyền, nghĩa vụ thi hành án được thực hiện theo
quyết định về phá sản;
e)Trường hợp doanh nghiệp thực hiện chuyển đổi thành công
ty cổ phần mà trước đó chưa thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án của mình thì
sau khi chuyển đổi, doanh nghiệp đó
tiếp tục thực hiện quyền, nghĩa vụ
thi hành án.
2. Trường
hợp người được thi hành án, người phải thi hành án là cá nhân chết thì quyền,
nghĩa vụ thi hành án được chuyển giao cho người khác theo quy định của pháp
luật về thừa kế.
3. Trường
hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì tổ chức, cá nhân được chuyển giao quyền
và nghĩa vụ thi hành án có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án hoặc phải tiếp tục
thực hiện nghĩa vụ thi hành án theo quy định của Luật này.
Thủ
trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án đối với cá nhân, tổ
chức mới tương ứng với quyền, nghĩa vụ thi hành án được chuyển giao và ra quyết
định thu hồi quyết định thi hành án trước đây.
Đối với
các quyết định, thông báo khác về thi hành án thì tùy từng trường hợp cụ thể mà
cơ quan thi hành án dân sự giữ nguyên, thu hồi hoặc ra các quyết định, thông
báo khác phù hợp theo quy định của Luật này.
4. Trường hợp đương sự thỏa
thuận về việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ về thi hành án cho người thứ ba thì
người thứ ba có quyền, nghĩa vụ của đương sự.
Điều 55. Ủy thác thi
hành án
1. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải uỷ thác thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi
hành án có tài sản, làm việc, cư trú hoặc có trụ sở.
2. Trường hợp người phải thi hành
án có tài sản, làm việc, cư trú hoặc có trụ sở ở nhiều địa phương thì Thủ trưởng cơ quan
thi hành án dân sự uỷ thác thi hành án từng
phần cho cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án có điều kiện thi
hành án để thi hành phần nghĩa vụ của họ.
Trường hợp ủy thác thi hành nghĩa vụ liên quan đến tài
sản thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ủy thác đến cơ quan thi hành án
dân sự nơi người phải thi hành án có tài sản; nếu không xác định được nơi có
tài sản hoặc nơi có tài sản trùng với nơi làm việc, cư trú, có trụ sở của người
phải thi hành án thì ủy thác đến nơi làm việc, cư trú hoặc nơi có trụ sở của
người đó.
Trường
hợp thi hành nghĩa vụ liên đới mà người phải thi hành án cư trú hoặc có tài sản
ở các địa phương khác nhau thì Thủ trưởng
cơ quan thi hành án dân sự uỷ thác toàn bộ nghĩa vụ thi hành án đến cơ quan thi
hành án dân sự thuộc một trong các địa phương nơi người phải thi hành án có
điều kiện thi hành án.
3. Việc ủy thác phải thực hiện trong thời hạn 05 ngày làm
việc, kể từ ngày xác định có căn cứ ủy thác. Trường hợp cần thiết phải ủy thác
việc thi hành quyết định của Tòa án về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì
việc uỷ thác phải thực hiện ngay sau khi có căn cứ uỷ thác.
Điều 56. Thẩm quyền uỷ
thác thi hành án
1. Cơ quan thi hành án dân
sự cấp tỉnh uỷ thác thi hành các bản án, quyết định sau đây:
a) Uỷ thác cho cơ quan thi
hành án dân sự cấp tỉnh nơi khác thi hành các bản án, quyết định về nhận người
lao động trở lại làm việc hoặc bồi thường thiệt hại mà người phải thi hành án
là cơ quan nhà nước cấp tỉnh trở lên; bản án, quyết định có yếu tố nước ngoài
hoặc liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ; quyết định của Trọng tài thương mại;
quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh;
b) Ủy thác cho cơ quan thi
hành án cấp quân khu thi hành vụ việc mà đương sự hoặc tài sản có liên quan đến
quân đội trên địa bàn;
c) Ủy thác cho cơ quan thi
hành án dân sự cấp huyện vụ việc khác, trừ những trường hợp quy định tại điểm a
và điểm b của khoản này.
2. Cơ quan thi hành án dân
sự cấp huyện ủy thác vụ việc thuộc thẩm quyền thi hành án của mình cho cơ quan
thi hành án dân sự cấp tỉnh nơi khác, cơ quan thi hành án cấp quân khu, cơ quan
thi hành án dân sự cấp huyện khác có điều kiện thi hành.
3. Cơ quan thi hành án cấp
quân khu ủy thác vụ việc thuộc thẩm quyền thi hành án của mình cho cơ quan thi
hành án cấp quân khu khác, cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh hoặc cơ quan thi
hành án dân sự cấp huyện có điều kiện thi hành.
Điều 57. Thực hiện ủy
thác thi hành án
1. Trước khi ủy thác, cơ
quan thi hành án dân sự phải xử lý xong tài sản tạm giữ, thu giữ, tài sản kê
biên tại địa bàn có liên quan đến khoản uỷ thác. Trường hợp Thủ trưởng cơ quan
thi hành án dân sự đã ra quyết định thi hành án nhưng xét thấy cần ủy thác thì
phải ra quyết định thu hồi một phần hoặc toàn bộ quyết định thi hành án và ra
quyết định ủy thác cho nơi có điều kiện thi hành.
2. Cơ quan thi hành án dân
sự nhận ủy thác không được trả lại quyết định ủy thác cho cơ quan thi hành án
dân sự đã ủy thác mà phải tiếp tục thực hiện việc thi hành án theo quy định của
Luật này, trừ trường hợp quyết định ủy thác có sự nhầm lẫn, sai sót rõ ràng về
thẩm quyền của cơ quan nhận ủy thác thi hành án, nội dung thi hành án.
Trong thời hạn 05 ngày làm
việc, kể từ ngày nhận được quyết định ủy thác, Thủ
trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi
hành án và thông báo bằng văn bản cho cơ quan thi hành án dân sự đã ủy thác về
việc nhận được quyết định ủy thác.
Điều 58. Bảo quản tài
sản thi hành án
1. Việc
bảo quản tài sản thi hành án được thực hiện bằng một trong các hình thức sau
đây:
a) Giao cho người phải thi hành
án, người thân thích của người phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều
40 của Luật này hoặc người đang sử dụng, bảo quản;
b) Cá nhân, tổ chức có điều kiện bảo quản;
c) Bảo quản tại kho của cơ quan thi hành án
dân sự.
2. Tài sản là kim khí quý,
đá quý, tiền hoặc giấy tờ có giá được bảo quản tại Kho bạc nhà nước.
3. Việc giao bảo quản tài sản phải được lập biên
bản ghi rõ loại tài sản, tình trạng tài sản, giờ, ngày, tháng, năm giao; họ,
tên Chấp hành viên, đương sự, người được giao bảo quản, người làm chứng, nếu
có; quyền, nghĩa vụ của người được giao bảo quản tài sản và có chữ ký của các
bên. Trường hợp có người từ chối ký thì phải ghi vào biên bản và nêu rõ lý do.
Người được giao bảo quản tài sản quy định tại
điểm b khoản 1 Điều này được trả thù lao và được thanh toán chi phí bảo quản tài
sản. Thù lao và chi phí bảo quản tài sản do người phải thi hành án chịu, trừ
trường hợp pháp luật có quy định khác.
4. Biên bản giao bảo quản tài sản được giao cho
đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người được giao bảo quản tài
sản hoặc người đang sử dụng, bảo quản tài sản và lưu hồ sơ thi hành án.
5. Người được giao bảo quản tài sản vi phạm quy
định của pháp luật trong việc bảo quản tài sản thì tuỳ theo tính chất, mức độ
vi phạm mà bị xử phạt hành chính, xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm
hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Điều
59. Việc thi hành án khi có thay đổi giá tài sản tại thời điểm thi hành án
Trường hợp theo bản án, quyết định mà một bên
được nhận tài sản và phải thanh toán cho người khác giá trị tài sản họ được
nhận, nhưng tại thời điểm thi hành án, giá tài sản thay đổi và một trong các
bên đương sự có yêu cầu định giá tài sản đó thì tài sản được định giá theo quy
định tại Điều 98 của Luật này để thi hành án.
Điều 60. Phí thi hành
án dân sự
Người được thi hành án phải
nộp phí thi hành án dân sự.
Chính phủ quy định mức phí thi hành án dân sự, thủ tục thu nộp, quản lý, sử dụng phí thi
hành án dân sự.
Điều 61. Điều kiện miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối
với khoản thu nộp ngân sách nhà nước
1. Người phải thi hành án
không có tài sản để thi hành các khoản thu nộp ngân sách nhà nước thì có thể được xét miễn nghĩa vụ thi
hành án khi hết thời hạn sau đây:
a) 05 năm, kể từ ngày ra
quyết định thi hành án đối với các khoản án phí không có giá ngạch;
b) 10 năm, kể từ ngày ra
quyết định thi hành án đối với các khoản thu nộp ngân sách nhà nước có giá trị dưới 5.000.000 đồng.
2. Người phải thi hành án đã
thi hành được một phần khoản thu nộp ngân sách nhà nước mà không có tài sản để thi hành án thì có thể được xét miễn thi hành phần
nghĩa vụ còn lại khi hết
thời hạn sau đây:
a) 05 năm, kể từ ngày ra
quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị dưới 5.000.000 đồng;
b) 10 năm, kể từ ngày ra
quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị dưới 10.000.000
đồng.
3. Người phải thi hành án đã
thi hành được một phần khoản thu nộp ngân sách nhà nước mà không có tài sản để thi hành án thì có thể
được xét giảm một phần nghĩa vụ thi hành án sau khi hết thời hạn sau đây:
a) 05 năm, kể từ ngày ra
quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ 10.000.000 đồng
đến 100.000.000 đồng;
b) 10 năm, kể từ ngày ra
quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ trên 100.000.000
đồng.
4. Việc xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án được tiến hành thường xuyên
nhưng mỗi người phải thi hành án chỉ được xét miễn hoặc giảm một lần trong 01
năm. Trường hợp một người phải thi hành nhiều khoản nộp ngân sách nhà nước trong nhiều bản án, quyết định khác nhau thì đối
với mỗi bản án, quyết định, người phải thi hành án chỉ được xét miễn hoặc giảm
thi hành án một lần trong 01 năm.
Điều 62. Hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành
án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước
Cơ quan thi hành án dân sự
lập hồ sơ đề nghị Tòa án có thẩm
quyền xem xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án. Hồ sơ bao gồm các tài liệu sau đây:
1. Văn bản đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án của Thủ trưởng cơ
quan thi hành án dân sự hoặc của Viện trưởng Viện kiểm sát trong trường hợp đề
nghị xét miễn, giảm khoản tiền phạt;
2. Bản án, quyết định của
Toà án, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án dân sự;
3. Biên bản xác minh điều
kiện thi hành án của người phải thi hành án được thực hiện trong thời hạn không quá 03 tháng trước khi đề nghị xét miễn, giảm;
4. Tài liệu khác chứng minh điều kiện được xét
miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án của người phải thi hành án, nếu có;
5. Ý kiến bằng văn bản của
Viện kiểm sát cùng cấp trong trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đề nghị xét
miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án.
Điều 63. Thẩm quyền,
thủ tục xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà
nước
1.
Việc xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Toà án quân sự khu
vực (sau đây gọi chung là Toà án cấp huyện) nơi cơ quan thi hành án dân sự đang
tổ chức việc thi hành án có trụ sở.
2.
Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày
nhận được hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án, Toà án phải thụ lý
hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án.
Trong thời hạn 20 ngày, kể
từ ngày thụ lý hồ sơ, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc phải mở phiên họp xét miễn, giảm
nghĩa vụ thi hành án.
3. Phiên họp xét miễn, giảm nghĩa vụ
thi hành án do một Thẩm phán
chủ trì, có sự tham dự của đại diện Viện kiểm sát cùng
cấp, cơ quan thi hành án dân sự đã đề nghị xét miễn, giảm.
Khi tiến hành
xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án, đại diện cơ quan thi hành án dân sự trình
bày tóm tắt hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm; đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý
kiến về hồ sơ đề nghị xét miễn,
giảm. Trên cơ sở xem xét hồ sơ và ý kiến của đại diện của Viện kiểm sát, cơ
quan thi hành án dân sự, Thẩm phán ra quyết định chấp nhận, chấp nhận một phần
hoặc không chấp nhận đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án.
4. Trong thời hạn 05 ngày
làm việc, kể từ ngày ra quyết định về việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án, Toà
án phải gửi quyết định đó cho người được xét miễn, giảm thi hành án, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, cơ quan thi hành án dân sự đã đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án, trại giam, trại tạm giam nơi người được xét
miễn, giảm nghĩa vụ thi hành đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước đang chấp hành hình phạt tù.
Điều 64. Kháng nghị quyết
định của Toà án về miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp
ngân sách nhà nước
1. Quyết định miễn, giảm
nghĩa vụ thi hành án của Tòa án có thể bị Viện kiểm sát kháng nghị theo thủ tục
phúc thẩm. Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 07 ngày, của Viện
kiểm sát cấp trên trực tiếp là 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định.
Hết thời hạn kháng
nghị, Viện kiểm sát không kháng nghị thì quyết
định của Toà án có hiệu lực thi hành.
2. Trong thời hạn 07 ngày,
kể từ ngày nhận được quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát, Toà án đã ra
quyết định miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án phải chuyển hồ sơ và văn bản kháng
nghị lên Toà án cấp trên trực tiếp.
3. Trong thời hạn 15 ngày,
kể từ ngày nhận được hồ sơ kháng nghị, Toà án cấp trên trực tiếp phải mở phiên
họp để xét kháng nghị.
Phiên họp xét kháng nghị do một Thẩm phán
chủ trì, có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp.
Trong trường hợp cần thiết, Toà án yêu cầu đại diện cơ quan thi hành án dân sự đã lập hồ sơ
đề nghị xét miễn, giảm tham dự. Thẩm phán chủ
trì phiên họp ra quyết định giải quyết kháng nghị.
Quyết định của Tòa án về giải quyết kháng nghị việc miễn, giảm
nghĩa vụ thi hành án có hiệu lực thi hành.
4. Trường hợp Viện kiểm sát
rút quyết định kháng nghị trước hoặc trong phiên họp xét kháng nghị thì Toà án ra quyết định
đình chỉ việc xét kháng nghị. Quyết định của Toà án về việc miễn, giảm thi hành
án bị kháng nghị có hiệu lực thi hành.
5. Trường hợp sau khi quyết
định cho miễn, giảm thi hành án có hiệu lực mà phát hiện người phải thi hành án
có hành vi cất giấu, tẩu tán tài sản để xin miễn, giảm, trốn tránh việc thi
hành án thì cơ quan thi hành án dân sự, Viện kiểm sát đã đề nghị xét miễn, giảm
có trách nhiệm đề nghị Chánh án Toà án, Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền
theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự và tố tụng dân sự xem xét việc
kháng nghị quyết định miễn, giảm thi hành án theo thủ tục tái thẩm.
Điều 65. Bảo đảm tài chính từ ngân sách nhà nước để thi
hành án
Trường hợp cơ quan, tổ chức
hoạt động hoàn toàn bằng kinh phí do ngân sách nhà nước cấp phải thi hành án đã áp dụng mọi biện pháp tài
chính cần thiết mà vẫn không có khả năng thi hành án thì ngân sách nhà nước bảo đảm nghĩa vụ thi hành án. Việc xử
lý trách nhiệm vật chất đối với người gây ra thiệt hại được thực hiện theo quy
định của pháp luật.
Chính phủ quy định thẩm quyền, điều kiện, đối tượng, thủ
tục bảo đảm tài chính để thi hành án.
CHƯƠNG IV
BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM VÀ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN
Mục 1
BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM THI HÀNH ÁN
Điều 66. Biện pháp bảo đảm thi hành án
1. Chấp hành viên có quyền
tự mình hoặc theo yêu cầu bằng văn bản của đương sự áp dụng ngay biện pháp bảo
đảm thi hành án nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, huỷ hoại tài sản, trốn tránh việc
thi hành án. Khi áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, Chấp hành viên không
phải thông báo trước cho đương sự.
2. Người yêu cầu Chấp hành
viên áp dụng biện pháp bảo đảm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu
của mình. Trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm không đúng mà gây thiệt
hại cho người bị áp dụng biện pháp bảo đảm hoặc cho người thứ ba thì phải bồi
thường.
3. Các biện pháp bảo đảm thi
hành án bao gồm:
a) Phong toả tài
khoản;
b) Tạm giữ tài sản, giấy tờ;
c) Tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi
hiện trạng về tài sản.
Điều 67. Phong tỏa tài khoản
1. Việc phong toả tài khoản
được thực hiện trong trường hợp cần ngăn chặn việc tẩu tán tiền trong tài khoản
của người phải thi hành án.
2. Khi tiến hành phong toả
tài khoản, Chấp hành viên phải giao quyết định phong toả tài khoản cho cơ quan,
tổ chức đang quản lý tài khoản của người phải thi hành án.
Cơ quan, tổ chức đang quản
lý tài khoản phải thực hiện ngay quyết định của Chấp hành
viên về phong toả tài khoản.
3. Trong thời hạn 05 ngày
làm việc, kể từ ngày ra quyết định phong toả tài khoản, Chấp hành viên phải áp
dụng biện pháp cưỡng chế quy định tại Điều 76 của Luật này.
Điều 68. Tạm giữ tài sản, giấy tờ
của đương sự
1. Chấp hành viên đang thực hiện nhiệm vụ thi hành án có quyền tạm giữ hoặc
yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hỗ trợ để tạm giữ tài sản, giấy tờ mà đương
sự đang quản lý, sử dụng.
2. Việc tạm giữ tài sản, giấy tờ phải lập biên bản có chữ ký của Chấp hành viên và đương sự. Trường hợp đương sự không ký
thì phải có chữ ký của người làm chứng. Biên bản tạm giữ tài sản, giấy tờ phải
được giao cho đương sự.
3. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tạm giữ tài sản, giấy tờ, Chấp hành
viên ra một trong các quyết định sau đây:
a) Áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án nếu xác định được tài sản, giấy
tờ tạm giữ thuộc sở hữu của người phải thi hành án;
b) Trả lại tài sản, giấy tờ tạm giữ cho đương sự trong trường hợp đương sự
chứng minh tài sản, giấy tờ tạm giữ không thuộc quyền sở hữu của người phải thi hành án. Việc trả lại tài sản, giấy tờ tạm giữ
phải lập biên bản, có chữ ký của các bên.
Điều 69. Tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng,
thay đổi hiện trạng tài sản
Trường hợp cần ngăn chặn
hoặc phát hiện đương sự có hành vi chuyển quyền sở hữu, sử dụng, tẩu tán, huỷ
hoại, thay đổi hiện trạng tài sản, Chấp hành viên ra quyết định tạm dừng việc
đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản của người
phải thi hành án và gửi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử
dụng, thay đổi hiện trạng tài sản đó.
Trong thời hạn 15 ngày, kể
từ ngày ra quyết định, Chấp hành viên thực hiện việc kê biên tài sản hoặc chấm dứt việc tạm dừng
việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản.
Mục 2
QUY ĐỊNH CHUNG VỀ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN
Điều 70. Căn cứ cưỡng chế thi hành án
Căn cứ để cưỡng chế thi hành án bao gồm:
1. Bản án, quyết định;
2. Quyết định thi hành án;
3. Quyết định cưỡng chế thi hành án, trừ trường hợp bản
án, quyết định đã tuyên kê biên, phong toả tài sản, tài khoản và trường hợp thi
hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Toà án.
Điều 71. Biện pháp cưỡng chế thi hành án
1. Khấu trừ tiền trong tài
khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án.
2. Trừ vào thu nhập của
người phải thi hành án.
3. Kê biên, xử lý tài sản
của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ.
4. Khai thác tài sản của người phải thi hành án.
5.
Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài
sản, giấy tờ.
6. Buộc người phải thi hành
án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định.
Điều 72. Kế hoạch cưỡng
chế thi hành án
1. Trước khi tiến hành cưỡng
chế thi hành án, Chấp hành viên phải lập kế hoạch cưỡng chế, trừ trường hợp phải cưỡng chế
ngay.
2. Kế hoạch cưỡng chế thi hành án bao gồm các nội dung chính
sau đây:
a) Biện
pháp cưỡng chế cần áp dụng;
b) Thời
gian, địa điểm cưỡng chế;
c) Phương án tiến hành cưỡng
chế;
d) Yêu cầu về lực lượng tham gia và bảo vệ cưỡng
chế;
đ) Dự trù chi phí cưỡng chế.
3. Kế hoạch cưỡng chế phải được gửi ngay cho Viện
kiểm sát, cơ quan Công an cùng cấp, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tổ chức cưỡng
chế hoặc cơ quan, tổ chức có liên quan đến việc cưỡng chế thi hành án.
4. Căn cứ vào kế hoạch cưỡng chế của cơ quan thi
hành án dân sự, cơ quan Công an có trách nhiệm lập kế hoạch bảo vệ cưỡng chế,
bố trí lực lượng, phương tiện cần thiết để giữ gìn trật tự, bảo vệ hiện trường,
kịp thời ngăn chặn, xử lý hành vi tẩu tán tài sản, hành vi cản trở, chống đối
việc thi hành án, tạm giữ người chống đối, khởi tố vụ án hình sự khi có dấu hiệu phạm tội.
Điều
73. Chi phí cưỡng chế thi hành án
1. Người phải thi hành án chịu chi phí cưỡng chế
thi hành án sau đây:
a) Chi phí thông báo về cưỡng chế thi hành án;
b) Chi phí mua nguyên liệu,
nhiên liệu, thuê phương tiện, thiết bị bảo vệ, y tế, phòng, chống cháy, nổ, các
thiết bị, phương tiện cần thiết khác cho việc cưỡng chế thi hành án;
c) Chi phí cho việc định giá, giám định tài sản, bán đấu giá tài sản;
chi phí định giá lại tài sản, trừ trường
hợp quy định tại điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều này;
d) Chi phí cho việc thuê,
trông coi, bảo quản tài sản; chi phí bốc dỡ, vận chuyển tài sản; chi phí thuê
nhân công và khoản chi phục vụ cho việc xây ngăn, phá dỡ; chi thuê đo đạc, xác
định mốc giới để thực hiện việc cưỡng chế thi hành án;
đ) Chi phí cho việc tạm giữ, thu giữ tài sản,
giấy tờ;
e) Tiền bồi dưỡng cho những
người trực tiếp tham gia cưỡng chế và bảo vệ cưỡng chế thi hành án.
2. Người được thi hành án
phải chịu chi phí cưỡng chế thi hành án sau đây:
a) Chi phí xác minh theo quy định tại khoản 1
Điều 44 của Luật này; chi phí định giá lại tài sản nếu người được thi hành án
yêu cầu định giá lại, trừ trường hợp định giá lại do có vi phạm quy định về
định giá;
b) Một phần hoặc toàn bộ chi phí xây ngăn, phá dỡ
trong trường hợp bản án, quyết định xác định người được thi hành án phải chịu
chi phí xây ngăn, phá dỡ.
3. Ngân sách nhà nước trả chi phí cưỡng chế thi
hành án trong các trường hợp sau đây:
a) Định giá lại tài sản khi có vi phạm quy định
về định giá;
b) Chi phí xác minh điều kiện thi hành án trong
trường hợp chủ động thi hành án quy định tại khoản 1 Điều 44 của Luật này;
c) Chi phí cần thiết khác theo quy định của Chính
phủ;
d) Trường hợp đương sự được miễn, giảm chi phí
cưỡng chế thi hành án theo quy định của pháp luật.
4. Chấp hành viên dự trù chi phí cưỡng chế và
thông báo cho người phải thi hành án biết ít nhất 03 ngày làm việc trước ngày
cưỡng chế đã được ấn định, trừ trường hợp cần thiết phải cưỡng chế ngay. Chi
phí cưỡng chế thi hành án được tạm ứng từ ngân sách nhà nước.
5. Các khoản chi phí cưỡng chế thi hành án được
thanh toán theo mức chi thực tế, hợp lý do Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân
sự duyệt theo đề xuất của Chấp hành viên.
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự nơi tổ chức
việc thi hành án thực hiện xét miễn, giảm các khoản chi phí cưỡng chế thi hành
án.
6. Chi phí
cưỡng chế thi hành án do đương sự nộp hoặc được khấu trừ vào tiền thu được,
tiền bán đấu giá tài sản kê biên, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ. Sau
khi xử lý tài sản hoặc thu được tiền, Chấp hành viên phải làm thủ tục hoàn trả
ngay các khoản tiền đã tạm ứng trước đó.
7. Chính phủ quy định mức bồi dưỡng cho người
trực tiếp tham gia cưỡng chế và bảo vệ cưỡng chế thi hành án; thủ tục thu, nộp,
miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án.
Điều
74. Cưỡng chế đối với tài sản thuộc sở hữu chung
1. Trước khi cưỡng chế đối với tài sản thuộc sở
hữu chung của người phải thi hành án với người khác, kể cả quyền sử dụng đất,
Chấp hành viên phải thông báo cho chủ sở hữu chung biết việc cưỡng chế.
Chủ sở hữu chung có quyền khởi kiện yêu cầu Toà
án xác định phần sở hữu của họ đối với tài sản chung. Trong thời hạn 30 ngày,
kể từ ngày nhận được thông báo, nếu chủ sở hữu chung không khởi kiện thì người
được thi hành án hoặc Chấp hành viên có quyền yêu cầu Toà án xác định phần sở
hữu của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để bảo đảm thi hành án.
Đối với tài sản thuộc quyền sở hữu chung của vợ,
chồng thì Chấp hành viên xác định phần sở hữu của vợ, chồng theo quy định của
pháp luật về hôn nhân và gia đình và thông báo cho vợ, chồng biết. Trường hợp
vợ hoặc chồng không đồng ý thì có quyền khởi
kiện yêu cầu Toà án phân chia tài sản chung trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày
phần sở hữu được Chấp hành viên xác định. Hết thời hạn trên, đương sự không
khởi kiện thì Chấp hành viên tiến hành xử lý tài sản và thanh toán lại cho vợ
hoặc chồng của người phải thi hành án giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu
của họ.
2. Tài sản kê biên thuộc sở hữu chung đã xác định
được phần sở hữu của các chủ sở hữu chung được xử lý như sau:
a) Đối với tài sản chung có thể chia được thì
Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế phần tài sản tương ứng với phần sở
hữu của người phải thi hành án;
b) Đối với tài sản chung không thể chia được hoặc
nếu việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì Chấp hành viên có
thể áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với toàn bộ tài sản và thanh toán lại cho
chủ sở hữu chung còn lại giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu của họ.
3. Khi bán tài sản chung, chủ sở hữu chung được
quyền ưu tiên mua tài sản.
Điều
75. Xử lý đối với tài sản khi cưỡng chế có tranh chấp
Trường hợp cưỡng chế đối với tài sản của người
phải thi hành án mà có tranh chấp với người khác thì Chấp hành viên tiến hành
cưỡng chế và yêu cầu đương sự, người có tranh chấp khởi kiện tại Toà án hoặc đề
nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Chấp
hành viên xử lý tài sản đã kê biên theo quyết định của Toà án, cơ quan có thẩm
quyền.
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày Chấp hành viên
yêu cầu mà đương sự, người có tranh chấp không khởi kiện tại Toà án hoặc đề
nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì
tài sản được xử lý để thi hành án theo quy định của Luật này.
Mục 3
CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ĐỐI VỚI TÀI SẢN LÀ TIỀN
Điều 76. Khấu trừ tiền trong tài khoản
1. Chấp hành viên
ra quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành án. Số tiền
khấu trừ không được vượt quá nghĩa vụ thi hành án và chi phí cưỡng chế.
2. Ngay sau khi
nhận được quyết định về khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành
án, cơ quan, tổ chức đang quản lý tài khoản phải khấu trừ tiền để chuyển vào
tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự hoặc chuyển cho người được thi hành án
theo quyết định khấu trừ.
Điều 77. Chấm dứt phong tỏa tài khoản
1. Việc phong toả tài khoản
được chấm dứt trong các trường hợp sau đây:
a) Người phải thi hành án đã
thi hành xong nghĩa vụ thi hành án;
b) Cơ quan, tổ chức đã thực
hiện xong yêu cầu của Chấp hành viên về khấu trừ tiền trong tài khoản của người
phải thi hành án;
c) Có quyết định đình chỉ
thi hành án theo quy định tại Điều 50 của Luật này.
2. Chấp hành viên ra quyết
định chấm dứt việc phong toả tài khoản ngay sau khi có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 78. Trừ vào thu
nhập của người phải thi hành án
1. Thu nhập của người phải
thi hành án gồm tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao
động và thu nhập hợp pháp khác.
2. Việc trừ vào thu nhập của
người phải thi hành án được thực hiện trong các trường hợp sau đây:
a) Theo thỏa thuận của đương sự;
b) Bản án, quyết định ấn định trừ vào thu nhập
của người phải thi hành án;
c) Thi hành án cấp dưỡng, thi hành án theo định
kỳ, khoản tiền phải thi hành án không lớn
hoặc tài sản khác của người phải thi hành án không đủ để thi hành án.
3. Chấp hành viên
ra quyết định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án.
Mức cao nhất được trừ vào tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp
mất sức lao động là 30% tổng số tiền được nhận hàng tháng, trừ trường hợp đương
sự có thoả thuận khác. Đối với thu nhập khác thì mức khấu trừ căn cứ vào thu
nhập thực tế của người phải thi hành án, nhưng phải đảm bảo điều kiện sinh hoạt
tối thiểu của người đó và người được nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật.
4. Cơ
quan, tổ chức, người sử dụng lao động, Bảo hiểm xã hội nơi người phải thi hành
án nhận tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp và các thu nhập hợp
pháp khác có trách nhiệm thực hiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.
Điều
79. Thu tiền từ hoạt động kinh doanh của người phải thi hành án
1. Trường hợp người phải thi hành án có thu nhập
từ hoạt động kinh doanh thì Chấp hành viên ra quyết định thu tiền từ hoạt động
kinh doanh của người đó để thi hành án.
Khi thu tiền, Chấp hành viên phải để lại số tiền
tối thiểu cho hoạt động kinh doanh và sinh hoạt của người phải thi hành án và
gia đình.
2. Chấp hành viên cấp biên lai thu tiền cho người
phải thi hành án.
Điều
80. Thu tiền của người phải thi hành án đang giữ
Trường hợp
phát hiện người phải thi hành án đang giữ tiền mà có căn cứ xác định khoản tiền
đó là của người phải thi hành án thì Chấp hành viên ra quyết định thu tiền để
thi hành án. Chấp hành viên lập biên bản thu tiền và cấp biên lai cho người
phải thi hành án. Trường hợp người phải thi hành án không ký vào biên bản thì
phải có chữ ký của người làm chứng.
Điều
81. Thu tiền của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ
Trường hợp phát hiện người thứ ba đang giữ
tiền của người phải thi hành án thì Chấp hành viên ra quyết định thu khoản tiền
đó để thi hành án. Người thứ ba đang giữ tiền của người phải thi hành án có
nghĩa vụ giao nộp tiền cho Chấp hành viên để thi hành án. Chấp hành viên lập
biên bản thu tiền, cấp biên lai cho người thứ ba đang giữ tiền và thông báo cho
người phải thi hành án. Trường hợp người thứ ba đang giữ tiền không ký vào biên
bản thì phải có chữ ký của người làm chứng.
Mục 4
CƯỠNG CHẾ ĐỐI VỚI TÀI SẢN LÀ GIẤY TỜ CÓ GIÁ
Điều 82. Thu giữ giấy tờ có giá
1. Trường hợp phát hiện
người phải thi hành án hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân đang giữ giấy tờ
có giá của người phải thi hành án thì Chấp hành viên ra quyết định thu giữ giấy
tờ đó để thi hành án.
2. Người phải thi hành
án hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân giữ giấy tờ có giá của
người phải thi hành án phải chuyển giao giấy tờ đó cho cơ quan thi hành án dân
sự theo quy định của pháp luật.
Trường hợp người phải thi hành án hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân giữ giấy
tờ có giá không giao giấy tờ cho cơ quan thi hành án dân sự thì Chấp hành viên
yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền chuyển giao giá trị của giấy tờ đó để
thi hành án.
Điều 83. Bán giấy tờ có
giá
Việc bán giấy tờ có giá được
thực hiện theo quy định của pháp
luật.
Mục 5
CƯỠNG CHẾ ĐỐI VỚI TÀI SẢN LÀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
Điều 84. Kê biên, sử dụng,
khai thác quyền sở hữu trí tuệ
1. Chấp hành viên ra quyết
định kê biên quyền sở hữu trí tuệ thuộc quyền sở hữu của người phải thi hành
án.
Trường hợp người phải thi
hành án là chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ chuyển quyền sử dụng quyền sở hữu
trí tuệ cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thì quyền sở hữu trí tuệ vẫn bị kê biên.
2. Khi kê biên quyền sở hữu
trí tuệ của người phải thi hành án, tùy từng đối tượng của quyền sở hữu trí
tuệ, Chấp hành viên thu giữ các giấy tờ có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ
của người phải thi hành án.
3. Trường hợp nhằm bảo đảm
mục tiêu quốc phòng, an ninh, dân sinh và lợi ích của Nhà nước, xã hội quy định
tại Luật sở hữu trí tuệ mà Nhà nước quyết định chủ sở hữu trí tuệ phải chuyển
giao quyền của mình cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác sử dụng trong thời gian nhất định thì Chấp hành viên
không được kê biên quyền sở hữu trí tuệ của người phải thi hành án trong thời
gian bắt buộc phải chuyển giao.
4. Chấp hành viên quyết định
giao cho cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng, khai thác quyền sở hữu trí tuệ. Cơ quan, tổ chức, cá nhân được giao sử dụng, khai thác
quyền sở hữu trí tuệ phải nộp số tiền thu được sau khi trừ các chi phí cần
thiết cho cơ quan thi hành án dân sự để thi hành án.
Trường hợp cần thiết, Chấp
hành viên yêu cầu tổ chức chuyên môn, nghề nghiệp về sở hữu trí tuệ thu và quản
lý thu nhập, lợi nhuận từ việc sử dụng, khai thác quyền sở hữu trí tuệ của
người phải thi hành án.
5. Trường hợp người phải thi
hành án đã chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ cho cơ
quan, tổ chức, cá nhân khác mà chưa được thanh toán
hoặc mới được thanh toán một phần tiền thì Chấp hành viên ra quyết định buộc cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận chuyển giao nộp khoản
tiền chưa thanh toán để thi hành án.
Điều 85. Định giá quyền sở hữu
trí tuệ
1. Quyền sở hữu trí tuệ được
định giá theo quy định tại Điều 98 và Điều 99 của Luật này và pháp luật về
quyền sở hữu trí tuệ.
2. Chính phủ quy định trình tự, thủ tục, phương pháp định giá và thẩm
quyền định giá quyền sở hữu trí tuệ.
Điều 86. Bán đấu giá quyền sở hữu trí tuệ
1. Quyền sở hữu trí tuệ được
bán đấu giá theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản và pháp luật về
quyền sở hữu trí tuệ.
2. Chính phủ quy định trình tự, thủ tục bán đấu giá và thẩm quyền bán
đấu giá quyền sở hữu trí tuệ.
Mục 6
CƯỠNG CHẾ ĐỐI VỚI TÀI SẢN LÀ VẬT
Điều 87. Tài sản không được kê biên
1. Tài sản bị cấm lưu thông
theo quy định của pháp luật; tài sản phục vụ
quốc phòng, an ninh, lợi ích công cộng; tài sản do ngân sách nhà nước
cấp cho cơ quan, tổ chức.
2. Tài sản sau đây của người
phải thi hành án là cá nhân:
a) Số
lương thực đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người phải thi hành án và gia đình
trong thời gian chưa có thu nhập, thu hoạch mới;
b) Số
thuốc cần dùng để phòng, chữa bệnh của người phải thi hành án và gia đình;
c) Vật
dụng cần thiết của người tàn tật, vật dụng dùng để chăm sóc người ốm;
d) Đồ dùng thờ cúng thông
thường theo tập quán ở địa phương;
đ) Công cụ lao động cần thiết, có giá trị không lớn được dùng làm phương tiện sinh sống chủ yếu hoặc duy
nhất của người phải thi hành án và gia đình;
e) Đồ dùng
sinh hoạt cần thiết cho người phải thi hành án và gia đình.
3. Tài sản sau đây của người
phải thi hành án là doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ:
a) Số thuốc phục vụ việc phòng, chữa bệnh cho người lao động; lương thực, thực phẩm,
dụng cụ và tài sản khác phục vụ bữa ăn cho người lao động;
b) Nhà
trẻ, trường học, cơ sở y tế và thiết bị, phương tiện, tài sản khác thuộc các cơ sở này, nếu không phải là tài sản để
kinh doanh;
c) Trang thiết bị, phương
tiện, công cụ bảo đảm an toàn lao động, phòng, chống cháy nổ, phòng, chống ô nhiễm môi trường.
Điều 88. Thực hiện việc
kê biên
1. Trước khi kê biên tài sản
là bất động sản ít nhất là 03 ngày làm việc, Chấp hành viên thông báo cho đại
diện chính quyền cấp xã hoặc đại diện tổ dân phố nơi tổ chức cưỡng chế, đương
sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, tài sản kê
biên, trừ trường hợp cần ngăn chặn đương sự tẩu tán, huỷ hoại tài sản, trốn
tránh việc thi hành án.
Trường hợp đương sự vắng mặt
thì có thể uỷ quyền cho người khác thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình.
Trường hợp đã được thông báo hợp lệ mà đương sự hoặc người được uỷ quyền vắng mặt
thì Chấp hành viên vẫn tiến hành
việc kê biên, nhưng phải mời người làm chứng và ghi rõ vào nội dung biên bản kê
biên. Trường hợp không mời được người làm chứng thì Chấp hành viên vẫn tiến
hành việc kê biên nhưng phải ghi rõ vào nội dung biên bản kê biên.
Khi kê biên đồ vật, nhà ở,
công trình kiến trúc nếu vắng mặt người phải thi hành án hoặc người đang quản
lý, sử dụng tài sản đó mà phải mở khoá, phá khoá, mở gói thì Chấp hành viên
thực hiện theo quy định tại Điều 93 của Luật này.
2. Việc kê biên tài sản phải
lập biên bản. Biên bản phải ghi rõ giờ, ngày, tháng, năm kê biên, họ, tên Chấp
hành viên, đương sự hoặc người được ủy quyền, người lập biên bản, người làm
chứng và người có liên quan đến tài sản; diễn biến của việc kê biên; mô tả tình
trạng từng tài sản, yêu cầu của đương sự và ý kiến của người làm chứng.
Biên bản kê biên có chữ ký
của đương sự hoặc người được uỷ quyền, người
làm chứng, đại diện chính quyền cấp xã hoặc đại diện tổ dân phố nơi tổ chức
cưỡng chế, Chấp hành viên và người lập biên bản.
Điều 89. Kê biên tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản phải đăng ký quyền
sở hữu hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm
1. Trước khi
kê biên tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật, Chấp hành viên yêu cầu cơ quan đăng ký
cung cấp thông tin về tài sản, giao dịch đã đăng ký.
2. Sau khi kê biên, Chấp hành viên thông báo bằng văn bản cho cơ quan
đăng ký về việc kê biên tài sản đó để xử lý theo quy định tại khoản 1 Điều 178 của Luật này.
Điều 90. Kê biên, xử lý tài sản đang cầm
cố, thế chấp
1. Trường hợp người phải thi
hành án không còn tài sản nào khác hoặc có tài sản nhưng không đủ để thi hành
án, Chấp hành viên có quyền kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án
đang cầm cố, thế chấp nếu giá trị của tài sản đó lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm
và chi phí cưỡng chế thi hành án.
2. Khi kê biên tài sản đang cầm cố, thế chấp, Chấp hành
viên phải thông báo ngay cho người nhận cầm cố, nhận thế chấp; khi xử lý tài
sản kê biên, người nhận cầm cố, nhận thế chấp được ưu tiên thanh toán theo quy
định tại khoản 3 Điều 47 của Luật này.
Điều 91. Kê biên tài sản của người phải
thi hành án đang do người thứ ba giữ
Trường hợp xác định người
thứ ba đang giữ tài sản của người phải thi hành án, kể cả trường hợp tài sản
được xác định bằng bản án, quyết định khác thì Chấp hành viên ra quyết định kê
biên tài sản đó để thi hành án; trường hợp
người thứ ba không tự nguyện giao tài sản thì Chấp hành viên cưỡng chế buộc họ
phải giao tài sản để thi hành án.
Trường hợp tài sản kê biên
đang cho thuê thì người thuê được tiếp tục thuê theo hợp đồng đã giao kết.
Điều 92. Kê biên vốn góp
1. Chấp hành viên yêu cầu cá
nhân, cơ quan, tổ chức nơi người phải thi hành án có vốn góp cung cấp thông tin về phần
vốn góp của người phải thi hành án để kê biên phần vốn góp đó. Trong trường hợp
cần thiết, Chấp hành viên yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xác định phần vốn góp của người phải thi hành
án; trưng cầu tổ chức, cá nhân có chuyên môn xác định phần giá trị vốn góp của
người phải thi hành án để cưỡng chế thi hành án.
2. Đương sự có quyền yêu cầu Toà án xác định phần vốn góp của người phải
thi hành án.
Điều 93. Kê biên đồ vật bị khóa, đóng gói
Khi kê biên đồ vật đang bị khoá hoặc đóng gói thì
Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án, người đang sử dụng, quản lý đồ
vật mở khoá, mở gói; nếu họ không mở hoặc cố tình vắng mặt thì Chấp hành viên
tự mình hoặc có thể thuê cá nhân, tổ chức khác mở khoá, phá khoá hoặc mở gói, trong trường hợp này phải có người làm chứng. Người phải thi hành án phải chịu thiệt hại do việc mở khoá, phá khóa,
mở gói.
Trường hợp cần thiết, sau khi mở khoá, phá khoá, mở
gói, Chấp hành viên niêm phong đồ vật và giao bảo quản theo quy định tại Điều
58 của Luật này.
Việc mở khoá, phá khoá, mở gói hoặc niêm phong phải
lập biên bản, có chữ ký của những người tham gia và người làm chứng.
Điều 94. Kê biên tài sản gắn liền với đất
Khi kê biên tài sản là công trình xây dựng gắn liền với đất
phải kê biên cả quyền sử dụng đất, trừ trường hợp quyền sử dụng đất không được kê biên theo quy
định của pháp luật hoặc việc
tách rời tài sản kê biên và đất
không làm giảm đáng kể giá trị tài sản đó.
Điều 95. Kê biên nhà ở
1. Việc kê biên nhà ở là nơi
ở duy nhất của người phải thi hành án và gia đình chỉ được thực hiện sau khi xác
định người đó không có các tài sản khác hoặc có nhưng không đủ để thi hành án,
trừ trường hợp người phải thi hành án đồng ý kê biên nhà ở để thi hành án.
2. Khi kê biên nhà ở phải kê biên cả quyền sử dụng đất gắn liền với nhà
ở. Trường hợp nhà ở gắn liền với đất thuộc quyền sử dụng của người khác thì
Chấp hành viên chỉ kê biên nhà ở và quyền sử dụng đất để thi hành án nếu người
có quyền sử dụng đất đồng ý. Trường hợp người có quyền sử dụng đất không đồng ý
thì chỉ kê biên nhà ở của người phải thi hành án, nếu việc tách rời nhà ở và
đất không làm giảm đáng kể giá trị căn nhà.
3. Khi kê biên nhà ở của
người phải thi hành án đang cho thuê, cho ở nhờ thì Chấp hành viên phải thông
báo ngay cho người đang thuê, đang ở nhờ biết.
Trường hợp tài sản kê biên
là nhà ở, cửa hàng đang cho thuê được bán đấu giá mà thời hạn thuê hoặc thời
hạn lưu cư vẫn còn thì người thuê có quyền tiếp tục được thuê hoặc lưu cư theo
quy định của Bộ luật dân sự.
4. Việc kê biên nhà ở bị khoá được thực hiện theo quy định tại Điều
93 của Luật này.
Điều 96. Kê biên phương tiện giao thông
1. Trường hợp kê biên phương
tiện giao thông của người phải thi hành án, Chấp hành viên yêu cầu người phải
thi hành án, người đang quản lý, sử dụng phương tiện đó phải giao giấy đăng ký
phương tiện đó, nếu có.
2. Đối với phương tiện giao
thông đang được khai thác sử dụng thì sau khi kê biên Chấp hành viên có thể thu
giữ hoặc giao cho người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tiếp tục
khai thác sử dụng, bảo quản nhưng không được chuyển nhượng, cầm cố, thế chấp.
Trường hợp giao cho người
phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tiếp tục khai thác sử dụng phương
tiện giao thông thì Chấp hành viên cấp cho người đó biên bản thu giữ giấy đăng
ký để phương tiện được phép tham gia giao thông.
3. Chấp hành viên có quyền
yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấm chuyển nhượng, cầm cố, thế chấp, cho thuê
hoặc hạn chế giao thông đối với phương tiện bị kê biên.
4. Việc kê biên đối với tàu bay,
tàu biển để thi hành án được thực hiện theo quy định của pháp luật về bắt giữ
tàu bay, tàu biển.
Điều 97. Kê biên hoa lợi
Trường hợp người phải thi
hành án có tài sản mang lại hoa lợi, Chấp hành viên kê biên hoa lợi đó để bảo
đảm thi hành án. Đối với hoa lợi là lương thực, thực phẩm thì khi kê biên, Chấp
hành viên phải để lại một phần để người phải thi hành án và gia đình họ sinh
sống theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 87 của Luật này.
Điều 98. Định giá tài sản kê biên
1. Ngay khi kê biên tài sản mà
đương sự thoả thuận được về giá tài sản hoặc về tổ chức thẩm định giá thì Chấp
hành viên lập biên bản về thỏa thuận đó. Giá tài sản do đương sự thoả thuận là
giá khởi điểm để bán đấu giá. Trường hợp đương sự có thoả thuận về tổ chức thẩm
định giá thì Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá đó.
2. Trong thời hạn 05 ngày
làm việc, kể từ ngày kê biên tài sản, Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ với tổ
chức thẩm định giá trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có
tài sản kê biên trong các trường hợp sau đây:
a) Đương sự không thoả thuận
được về giá và không thoả thuận được việc lựa chọn tổ chức thẩm định giá;
b) Tổ chức thẩm định giá do
đương sự lựa chọn từ chối việc ký hợp đồng dịch vụ;
c) Thi hành phần bản án,
quyết định quy định tại khoản 1 Điều 36 của Luật này.
3. Chấp hành viên xác định
giá trong các trường hợp sau đây:
a) Không thực hiện được việc
ký hợp đồng dịch vụ quy định tại khoản 2 Điều này;
b) Tài sản kê biên thuộc
loại tươi sống, mau hỏng hoặc có giá trị nhỏ mà đương sự không thoả thuận được
với nhau về giá. Chính phủ quy định về tài sản có giá trị nhỏ.
Điều
99. Định giá lại tài sản kê biên
1. Việc định giá lại tài sản
kê biên được thực hiện trong các trường hợp sau đây:
a) Chấp hành viên có vi phạm
nghiêm trọng quy định tại Điều 98 của Luật này dẫn đến sai lệch kết quả định
giá tài sản;
b) Đương sự có yêu cầu định
giá lại trước khi có thông báo công khai về việc bán đấu giá tài sản.
2. Việc định giá lại tài sản
kê biên được thực hiện theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 98 của Luật
này.
Điều 100. Giao tài sản để thi hành án
1.
Trường hợp đương sự thoả thuận để người được thi hành án nhận tài sản đã kê
biên để trừ vào số tiền được thi hành án thì Chấp hành viên lập biên bản về việc thoả thuận.
Trường
hợp có nhiều người được thi hành án thì người nhận tài sản phải được sự đồng ý
của những người được thi hành án khác và phải thanh toán lại cho những người
được thi hành án khác số tiền tương
ứng tỷ lệ giá trị mà họ được hưởng.
2.
Việc giao tài sản để trừ vào số
tiền được thi hành án được thực hiện trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày có
thoả thuận.
Điều 101. Bán tài sản đã kê biên
1. Tài sản đã kê biên được
bán theo các hình thức sau đây:
a) Bán đấu giá;
b) Bán không qua thủ tục đấu
giá.
2. Việc bán đấu giá đối với tài sản kê biên là
động sản có giá trị từ trên 10.000.000 đồng và bất động
sản do tổ chức bán đấu giá thực hiện.
Đương sự có quyền thoả thuận
về tổ chức bán đấu giá trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc, kể từ ngày
định giá. Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản với tổ chức
bán đấu giá do đương sự thoả thuận. Trường hợp đương sự không thoả thuận được
thì Chấp hành viên lựa chọn tổ chức bán đấu giá để ký hợp đồng dịch vụ bán đấu
giá tài sản.
Việc ký hợp đồng dịch vụ bán
đấu giá tài sản được tiến hành trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày định giá.
Việc bán đấu
giá đối với động sản phải được thực hiện trong thời hạn là 30 ngày, đối với bất
động sản là 45 ngày, kể từ ngày ký hợp đồng.
3. Chấp hành viên bán đấu
giá tài sản kê biên trong các trường hợp sau đây:
a) Tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi
có tài sản chưa có tổ
chức bán đấu giá hoặc có nhưng tổ chức bán đấu giá từ chối ký hợp đồng dịch vụ
bán đấu giá tài sản;
b) Động sản có giá trị từ
2.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Việc bán đấu giá đối với
động sản phải được thực hiện trong thời hạn là 30 ngày, đối với bất động sản là 45 ngày,
kể từ ngày định giá hoặc từ ngày nhận được văn bản của tổ chức bán đấu giá từ
chối bán đấu giá.
4. Chấp hành viên bán không
qua thủ tục bán đấu giá đối với tài sản có giá trị dưới 2.000.000 đồng hoặc tài
sản tươi sống, mau hỏng.
Việc bán tài sản phải được
thực hiện trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc, kể từ ngày kê biên.
5. Trước khi mở cuộc bán đấu
giá 01 ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp
đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ
việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá.
Người phải thi hành án có
trách nhiệm hoàn trả phí tổn
thực tế, hợp lý cho người đăng ký mua tài sản. Mức phí tổn do các bên thoả
thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.
6. Thủ tục bán đấu giá được
thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản.
Điều 102. Huỷ kết quả
bán đấu giá tài sản
1. Đương sự, Chấp hành viên có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết
tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản.
2. Trường hợp kết quả bán đấu giá tài sản bị huỷ theo bản án, quyết định
của Toà án thì việc xử lý tài sản để thi hành án được thực hiện theo quy định
của Luật này.
3. Việc xử lý hậu quả và bồi thường thiệt hại do kết quả bán đấu giá tài
sản bị huỷ được giải quyết theo quy định của pháp luật.
Điều 103. Giao tài sản
bán đấu giá
Người phải
thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tài sản không giao tài sản bán đấu giá
cho người mua được tài sản thì thủ tục cưỡng chế giao tài sản được thực hiện theo quy định tại các
điều 114, 115, 116 và 117 của Luật này.
Điều 104. Xử lý tài sản
bán đấu giá không thành
Trong thời hạn 10 ngày, kể
từ ngày bán đấu giá không thành mà đương sự không yêu cầu định giá lại thì Chấp
hành viên ra quyết định giảm giá tài sản để tiếp tục bán đấu giá. Mỗi lần giảm
giá không quá mười phần trăm giá đã định.
Trường hợp giá tài sản đã
giảm thấp hơn chi phí cưỡng chế mà người được thi hành án không nhận tài sản để
trừ vào số tiền được thi hành án thì tài sản được trả lại cho người phải thi hành án.
Điều 105. Giải toả kê
biên tài sản
1. Việc giải toả kê biên tài
sản được thực hiện trong các trường
hợp sau đây:
a) Đương sự thoả thuận về
việc giải toả kê biên tài sản mà không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp
của người thứ ba;
b) Đương sự đã thực hiện
xong nghĩa vụ thi hành án và các chi
phí thi hành án theo quy định của Luật này;
c) Có quyết định của người
có thẩm quyền hủy bỏ quyết định kê biên tài sản;
d) Có quyết định đình chỉ
thi hành án theo quy định tại Điều 50 của Luật này.
2. Chấp hành viên ra quyết
định giải toả kê biên và trả lại tài sản cho người phải thi hành án trong thời
hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 106. Đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử
dụng tài sản
1. Người mua được tài sản
thi hành án, người nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án được pháp luật công nhận và bảo vệ quyền sở
hữu, sử dụng đối với tài sản đó.
2. Cơ quan nhà nước có thẩm
quyền có trách nhiệm làm thủ tục đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng cho
người mua, người nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án. Cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm cung cấp đầy đủ những văn
bản, giấy tờ quy định tại khoản 3 Điều này cho người mua tài sản thi hành án, người nhận tài sản để trừ
vào số tiền được thi hành án.
3. Hồ sơ đăng ký chuyển
quyền sở hữu, sử dụng gồm có:
a) Văn bản đề nghị của cơ
quan thi hành án dân sự;
b) Bản sao bản án, quyết
định;
c) Quyết định thi hành án,
quyết định kê biên tài sản;
d) Văn bản bán đấu giá thành hoặc biên bản giao nhận tài
sản để thi hành án;
đ) Giấy tờ khác có liên quan đến tài sản, nếu có.
4. Trường hợp tài sản là quyền sử dụng đất mà
không có giấy chứng nhận hoặc không thu hồi được giấy chứng nhận thì cơ quan có
thẩm quyền có trách nhiệm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định
của pháp luật về đất đai.
Đối với tài sản phải đăng ký quyền sở hữu mà
không có giấy tờ đăng ký hoặc không thu hồi được giấy tờ đăng ký thì cơ quan có
thẩm quyền đăng ký có trách nhiệm cấp giấy chứng nhận đăng ký quyền sở hữu.
Giấy tờ được cấp mới có giá trị thay thế cho giấy
tờ không thu hồi được.
Mục 7
CƯỠNG CHẾ KHAI THÁC ĐỐI VỚI TÀI SẢN
Điều 107. Cưỡng chế khai thác đối với tài
sản để thi hành án
1. Chấp hành viên cưỡng chế
khai thác tài sản của người phải thi hành án trong các trường hợp sau đây:
a) Tài sản của người phải
thi hành án có giá trị quá lớn so với nghĩa vụ phải thi hành và tài sản đó có
thể khai thác để thi hành án;
b) Người được thi hành án
đồng ý cưỡng chế khai thác tài sản để thi hành án nếu việc khai
thác tài sản không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp
của người thứ ba.
2. Chấp hành viên phải ra
quyết định cưỡng chế khai thác tài sản. Quyết định ghi rõ hình thức khai thác; số tiền, thời hạn, thời
điểm, địa điểm, phương thức nộp tiền cho cơ quan thi hành án dân sự để thi hành
án.
Quyết định cưỡng chế khai
thác tài sản phải được gửi ngay cho cơ quan có thẩm quyền quản lý, đăng ký đối
với tài sản đó và Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản.
Việc thực hiện giao dịch,
chuyển giao quyền sở hữu tài sản đối với tài sản đang khai thác phải được sự
đồng ý của Chấp hành viên.
Điều 108. Hình thức
cưỡng chế khai thác tài sản để thi hành án
Tài sản của người phải thi
hành án bị cưỡng chế khai thác để thi hành án theo các hình thức sau đây:
1. Tài sản mà người phải thi hành án đang trực
tiếp khai thác hoặc cho người khác khai thác thì người
đang khai thác được tiếp tục khai thác.
Trường hợp tài sản, bao gồm cả quyền sử dụng đất mà chưa khai thác thì Chấp hành viên
yêu cầu người phải thi hành án ký hợp đồng khai thác tài sản với tổ chức, cá
nhân có nhu cầu khai thác tài sản.
2. Người khai thác tài sản quy định tại
khoản 1 Điều này phải nộp số tiền thu được từ việc khai thác tài sản cho cơ quan thi hành án dân sự, sau khi trừ các chi phí cần thiết.
3. Trong
thời hạn 30 ngày, kể từ ngày yêu cầu mà người phải thi hành án không ký hợp
đồng khai thác với người khác thì Chấp hành viên kê biên, xử lý tài sản đó để thi hành án.
Điều 109. Chấm dứt việc cưỡng chế khai
thác tài sản
1. Chấp hành viên ra quyết
định chấm dứt việc cưỡng chế khai thác tài sản trong các trường hợp sau đây:
a) Việc khai thác tài sản
không hiệu quả hoặc làm cản trở đến việc thi hành án;
b) Người phải thi hành án,
người khai thác tài sản thực hiện không đúng yêu cầu của Chấp hành viên về việc
khai thác tài sản;
c) Người phải thi hành án đã
thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án và các chi phí về thi hành án;
d) Có quyết định đình chỉ
thi hành án.
2. Trường hợp việc cưỡng chế
khai thác tài sản chấm dứt theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này
thì Chấp hành viên tiếp tục kê biên và xử lý tài sản đó để thi hành án.
Trường hợp việc cưỡng chế
khai thác tài sản chấm dứt theo quy định tại điểm c và điểm d khoản 1 Điều này
thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày có quyết định, Chấp hành viên ra quyết định giải toả
việc cưỡng chế khai thác tài sản và trả lại tài sản cho người phải thi hành án.
Mục 8
CƯỠNG CHẾ ĐỐI VỚI TÀI SẢN LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
Điều 110. Quyền sử dụng đất được kê
biên, bán đấu giá để thi hành án
1. Chấp hành viên chỉ kê biên quyền
sử dụng đất của người phải thi hành án thuộc trường hợp được chuyển quyền sử dụng theo quy định của pháp luật về
đất đai.
2. Người phải thi hành án chưa được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất mà thuộc trường hợp được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai hoặc thuộc diện quy hoạch phải thu hồi đất, nhưng
chưa có quyết định thu hồi đất thì vẫn được kê biên, xử lý quyền sử dụng đất đó.
Điều 111. Kê biên quyền sử dụng đất
1. Khi kê biên quyền sử dụng đất, Chấp hành viên yêu cầu
người phải thi hành án, người đang quản lý giấy tờ về quyền sử dụng đất phải
nộp các giấy tờ đó cho cơ quan thi hành án dân sự.
2. Khi kê biên quyền sử dụng đất có tài sản gắn liền với
đất thuộc quyền sở hữu của người phải thi
hành án thì kê biên cả quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.
Trường
hợp đất của người phải thi hành án có tài sản gắn liền với đất mà tài sản đó thuộc quyền sở hữu của người khác thì
Chấp hành viên chỉ kê biên quyền sử dụng đất và thông báo cho người có tài sản
gắn liền với đất.
3. Việc kê
biên quyền sử dụng đất phải lập biên bản ghi rõ vị trí, diện tích, ranh giới
thửa đất được kê biên, có chữ ký của những người tham gia kê biên.
Điều 112. Tạm giao quản lý, khai thác, sử
dụng diện tích đất đã kê biên
1. Trường hợp diện tích đất
đã kê biên đang do người phải thi hành án quản lý, khai thác, sử dụng thì Chấp
hành viên tạm giao diện tích đất đã kê biên cho người đó.
Trường hợp diện tích đất đã
kê biên đang do tổ chức hoặc cá nhân khác quản lý, khai thác, sử dụng thì tạm
giao cho tổ chức, cá nhân đó.
2. Trường hợp người phải thi
hành án hoặc tổ chức, cá nhân quy định tại khoản 1 Điều này không nhận thì Chấp
hành viên tạm giao diện tích đất đã kê biên cho tổ chức, cá nhân khác quản lý,
khai thác, sử dụng. Trường hợp không có tổ
chức, cá nhân nào nhận thì cơ quan thi hành án dân sự tiến hành ngay việc định
giá và bán đấu giá theo quy định của pháp luật.
3. Việc tạm giao quản lý,
khai thác, sử dụng đất đã kê biên phải được lập biên bản, trong đó ghi rõ:
a) Diện tích, loại đất, vị trí, số thửa đất, số bản đồ;
b) Hiện trạng sử dụng đất;
c) Thời hạn tạm giao quản
lý, khai thác, sử dụng
đất;
d) Quyền và nghĩa vụ cụ thể
của người được tạm giao quản lý, khai thác, sử dụng đất.
4. Trong thời hạn tạm giao
quản lý, khai thác, sử dụng đất đã kê biên, người được tạm giao không được
chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, để thừa kế, thế
chấp, hoặc góp vốn bằng quyền sử dụng đất; không được làm thay đổi hiện trạng
sử dụng đất; không được sử dụng đất trái mục đích.
Điều 113. Xử lý tài sản
gắn liền với đất đã kê biên
1. Trường hợp tài sản gắn liền với đất đã kê
biên thuộc sở hữu của người khác thì xử lý như sau:
a) Đối với tài sản có trước khi người phải thi hành án nhận được
quyết định thi hành án thì Chấp hành viên yêu cầu người có tài sản tự nguyện di
chuyển tài sản để trả quyền sử dụng đất cho người phải thi hành án. Trường hợp
người có tài sản không tự nguyện di chuyển tài sản thì Chấp hành viên hướng dẫn
cho người có tài sản và người phải thi hành án thoả thuận bằng văn bản về
phương thức giải quyết tài sản. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày hướng dẫn mà
họ không thoả thuận được thì Chấp hành viên xử lý tài sản đó cùng với quyền sử dụng
đất để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người phải thi hành án và người có
tài sản gắn liền với đất.
Trường hợp người có tài sản là người thuê đất hoặc nhận góp vốn
bằng quyền sử dụng đất của người phải thi hành án mà không hình thành pháp nhân
mới thì người có tài sản được quyền tiếp tục ký hợp đồng thuê đất, hợp đồng góp
vốn bằng quyền sử dụng đất với người trúng đấu giá, người nhận quyền sử dụng
đất trong thời hạn còn lại của hợp đồng mà họ đã ký kết với người phải thi hành
án. Trường hợp này, trước khi xử lý quyền sử dụng đất, Chấp hành viên có trách
nhiệm thông báo cho người tham gia đấu giá, người được đề nghị nhận quyền sử
dụng đất về quyền được tiếp tục ký hợp đồng của người có tài sản gắn liền với
đất;
b) Đối với tài sản có sau khi người phải thi hành án nhận được
quyết định thi hành án thì Chấp hành viên yêu cầu người có tài sản tự nguyện di
chuyển tài sản để trả lại quyền sử dụng đất cho người phải thi hành án. Sau
thời hạn 15 ngày, kể từ ngày yêu cầu, mà người có tài sản không di chuyển tài sản
hoặc tài sản không thể di chuyển được thì Chấp hành viên xử lý tài sản đó cùng
với quyền sử dụng đất.
Đối với tài sản có sau khi kê biên, nếu người có tài sản không di
chuyển tài sản hoặc tài sản không thể di chuyển được thì tài sản phải bị tháo
dỡ. Chấp hành viên tổ chức việc tháo dỡ tài sản, trừ trường hợp người nhận
quyền sử dụng đất hoặc người trúng đấu giá quyền sử dụng đất đồng ý mua tài
sản;
c) Người có tài sản gắn liền với đất của người
phải thi hành án được hoàn trả tiền bán tài sản, nhận lại tài sản, nếu tài sản
bị tháo dỡ nhưng phải chịu các chi phí về kê biên, định giá, bán đấu giá, tháo
dỡ tài sản.
2. Trường hợp tài sản thuộc sở hữu của người phải
thi hành án gắn liền với quyền sử dụng đất đã kê biên thì Chấp hành viên xử lý
tài sản cùng với quyền sử dụng đất.
3. Đối với tài sản là cây trồng, vật nuôi ngắn
ngày chưa đến mùa thu hoạch hoặc tài sản đang trong quy trình sản xuất khép kín
chưa kết thúc thì sau khi kê biên, Chấp hành viên chỉ tiến hành xử lý khi đến
mùa thu hoạch hoặc khi kết thúc quy trình sản xuất khép kín.
Mục 9
CƯỠNG CHẾ TRẢ VẬT, GIẤY TỜ,
CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
Điều 114. Thủ tục cưỡng chế trả vật
1. Đối với vật đặc định,
việc cưỡng chế được thực hiện như sau:
a) Chấp hành viên yêu cầu
người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng trả vật cho người được thi
hành án; nếu người đó không thi hành thì Chấp hành viên thu hồi vật để trả cho
người được thi hành án;
b) Trường hợp vật phải trả
giảm giá trị mà người được thi hành án không đồng ý nhận thì Chấp hành viên
hướng dẫn đương sự thoả thuận việc thi hành án. Việc thi hành án được thực hiện theo thoả
thuận.
Trường hợp đương sự không
thoả thuận được thì Chấp hành viên cưỡng chế trả vật cho người được thi hành
án. Đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết về thiệt hại do vật
phải trả bị giảm giá trị;
c) Trường hợp vật không còn
hoặc bị hư hỏng đến mức không sử dụng được mà đương sự có thoả thuận khác về
việc thi hành án thì Chấp hành viên thi hành theo thoả thuận.
Trường hợp đương sự không
thoả thuận được thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định trả đơn
yêu cầu thi hành án. Đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết về
thiệt hại do vật phải trả không còn hoặc hư hỏng đến mức không sử dụng được.
2. Đối với vật cùng loại thì
Chấp hành viên thực hiện việc cưỡng chế theo nội dung bản án, quyết định.
Trường hợp vật phải trả
không còn hoặc hư hỏng, giảm giá trị thì Chấp hành viên yêu cầu người phải thi
hành án trả vật cùng loại hoặc thanh toán giá trị của vật cùng loại, trừ trường
hợp đương sự có thoả thuận khác.
3. Trường hợp người phải thi
hành án, người đang quản lý, sử dụng vật phải trả có thể tẩu tán, huỷ hoại vật
đó thì Chấp hành viên có quyền áp dụng ngay biện pháp bảo đảm thi hành án quy
định tại Điều 68 của Luật này.
Điều
115.
Cưỡng chế trả nhà, giao nhà
1. Trường hợp người phải thi
hành án có nghĩa vụ trả nhà thì Chấp hành viên buộc người phải thi hành án và
những người khác có mặt trong nhà ra khỏi nhà, đồng thời yêu cầu họ tự chuyển
tài sản ra khỏi nhà; nếu họ
không tự nguyện thực hiện thì Chấp hành viên yêu cầu lực lượng cưỡng chế đưa họ
cùng tài sản ra khỏi nhà.
Trường hợp họ từ chối nhận
tài sản, Chấp hành viên phải lập biên bản ghi rõ số lượng, chủng loại, tình
trạng từng loại tài sản và giao tài sản cho tổ chức, cá nhân có điều kiện bảo
quản hoặc bảo quản tại kho của cơ quan thi hành án dân sự và thông báo địa
điểm, thời gian để người có tài sản nhận lại tài sản.
2. Trường hợp người phải thi
hành án cố tình vắng mặt mặc dù đã được thông báo quyết định cưỡng chế thì Chấp
hành viên thực hiện việc cưỡng chế theo quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Hết thời hạn 03 tháng, kể
từ ngày thông báo theo quy định tại khoản 1 Điều này mà người có tài sản bảo
quản không đến nhận thì tài sản đó được xử lý theo quy định tại khoản 2 Điều
126 của Luật này, trừ trường hợp có lý do chính đáng.
4. Việc cưỡng chế để trả lại
công trình xây dựng, vật kiến trúc theo bản án, quyết định được thực hiện theo
quy định tại các khoản 1,
2 và 3 Điều này.
5. Trường hợp cưỡng chế giao
nhà là nhà ở duy nhất của người phải thi hành án cho người mua được tài sản bán
đấu giá, nếu xét thấy sau khi thanh toán các khoản nghĩa vụ thi hành án mà người phải thi hành án
không còn đủ tiền để thuê nhà hoặc tạo lập nơi ở mới thì trước khi làm thủ tục chi
trả cho người được thi hành án, Chấp hành viên
trích lại từ số tiền bán tài sản một khoản tiền để người phải thi hành án thuê
nhà phù hợp với giá thuê nhà trung bình tại địa phương trong thời hạn 01 năm. Nghĩa vụ thi hành án còn lại được tiếp tục thực hiện theo quy định của
Luật này.
Điều 116. Cưỡng chế trả giấy tờ
1. Chấp hành viên ra quyết
định cưỡng chế buộc người phải thi hành án trả giấy tờ cho người được thi hành
án. Trường hợp người phải thi hành án không thực hiện thì Chấp hành viên cưỡng
chế buộc người đó trả giấy tờ để thi hành án.
Trường hợp xác định người
thứ ba đang giữ giấy tờ phải trả thì Chấp hành viên yêu cầu người đó giao giấy
tờ đang giữ, nếu người
thứ ba không tự nguyện giao thì Chấp hành viên cưỡng chế buộc người đó giao
giấy tờ để thi hành án.
2. Trường hợp giấy tờ không
thể thu hồi được nhưng có thể cấp lại thì Chấp hành viên yêu cầu cơ quan, tổ
chức có thẩm quyền ra quyết định hủy giấy tờ đó và cấp giấy tờ mới cho người
được thi hành án.
Đối với giấy tờ không thể
thu hồi và cũng không thể cấp lại được thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân
sự ra quyết định trả đơn yêu cầu thi hành án và hướng dẫn đương sự khởi kiện
yêu cầu Toà án giải quyết.
Điều 117. Cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất
1. Trường hợp bản án, quyết
định tuyên nghĩa vụ chuyển giao quyền sử dụng đất thì Chấp hành viên tổ chức
giao diện tích đất cho người được thi hành án.
Khi tiến hành giao đất phải
có sự tham gia của đại diện cơ quan quản lý nhà nước về đất đai cùng cấp và Uỷ
ban nhân dân cấp xã nơi có đất được chuyển giao.
2. Việc xử lý tài sản gắn liền với đất được chuyển giao
thực hiện theo quy định sau đây:
a) Trường hợp tài sản gắn
liền với đất hình thành sau khi có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật thì Chấp hành
viên yêu cầu người có tài sản đó tháo dỡ hoặc chuyển tài sản ra khỏi diện tích đất phải chuyển giao cho
người được thi hành án. Nếu người có tài sản không thực hiện thì Chấp hành viên
cưỡng chế tháo dỡ hoặc chuyển tài sản ra khỏi diện tích
đất phải chuyển giao, trừ trường hợp đương sự có thoả thuận khác. Chi phí cưỡng chế do người có tài sản chịu.
Trường hợp người có tài sản gắn liền với đất từ chối nhận tài sản thì
Chấp hành viên lập biên bản ghi rõ số lượng, chủng loại, tình trạng từng loại
tài sản, giao tài sản cho tổ chức, cá nhân có điều kiện bảo quản hoặc bảo quản
tại kho của cơ quan thi hành án dân sự và thông báo địa điểm, thời gian để
người có tài sản nhận lại tài sản.
Hết thời hạn thông báo mà
người có tài sản không đến nhận thì tài sản được xử lý theo quy định tại Điều 126 của Luật này;
b) Trường hợp tài sản gắn liền với đất có trước khi có bản án,
quyết định sơ thẩm nhưng bản án, quyết định được thi hành không tuyên rõ việc
xử lý đối với tài sản đó thì cơ quan thi hành án dân sự yêu cầu Toà án đã ra
bản án, quyết định giải thích rõ việc xử lý đối với tài sản hoặc đề nghị Toà án
có thẩm quyền xem xét lại nội dung bản án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.
3. Việc cưỡng chế giao quyền sử dụng đất cho người
trúng đấu giá hoặc cho người nhận quyền sử dụng đất để trừ vào số tiền được thi hành án được thực hiện
theo quy định tại khoản 2 Điều này.
Mục 10
CƯỠNG CHẾ THI HÀNH NGHĨA VỤ BUỘC THỰC HIỆN
HOẶC KHÔNG ĐƯỢC THỰC HIỆN CÔNG VIỆC NHẤT ĐỊNH
HOẶC KHÔNG ĐƯỢC THỰC HIỆN CÔNG VIỆC NHẤT ĐỊNH
Điều 118. Cưỡng chế thi hành nghĩa vụ buộc thực hiện công việc nhất định
1. Trường hợp thi hành nghĩa
vụ phải thực hiện công việc nhất định theo bản án, quyết định mà người phải thi
hành án không thực hiện thì Chấp hành viên quyết định phạt tiền và ấn định thời
hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định phạt tiền để người đó thực hiện
nghĩa vụ thi hành án.
2. Hết thời hạn
đã ấn định mà người phải thi hành án không thực hiện nghĩa
vụ thi hành án thì Chấp hành viên xử lý như sau:
a) Trường hợp công việc đó
có thể giao cho người khác thực hiện thay thì Chấp hành viên giao cho người có
điều kiện thực hiện; chi phí thực hiện do người phải thi hành án chịu;
b) Trường hợp công việc đó
phải do chính người phải thi hành án thực hiện thì Chấp hành viên đề nghị cơ
quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án.
Điều 119. Cưỡng chế thi hành nghĩa vụ không được thực hiện
công việc nhất định
Người phải
thi hành án không tự nguyện chấm dứt việc thực hiện công việc mà theo bản án,
quyết định không được thực hiện thì Chấp hành viên ra quyết định phạt tiền đối
với người đó, trong trường hợp cần thiết có thể yêu cầu họ khôi phục hiện trạng
ban đầu. Trường hợp người đó vẫn không chấm dứt công việc không được làm, không
khôi phục lại hiện trạng ban đầu thì Chấp hành viên đề nghị cơ quan có thẩm
quyền truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án.
Điều 120. Cưỡng chế giao
người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định
1. Chấp hành viên ra quyết
định buộc giao người chưa thành niên cho người được
giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định. Trước khi
cưỡng chế giao người chưa thành niên cho người được
giao nuôi dưỡng, Chấp hành viên phối hợp với chính
quyền địa phương, tổ chức chính trị - xã hội tại địa phương đó thuyết phục đương sự tự
nguyện thi hành án.
2. Trường hợp người phải thi
hành án hoặc người đang trông giữ người chưa thành niên không giao người chưa
thành niên cho người được giao nuôi dưỡng thì Chấp hành viên ra quyết định phạt tiền, ấn
định thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định phạt tiền để người đó giao người chưa thành niên
cho người được giao nuôi
dưỡng. Hết thời hạn đã ấn định mà người đó không thực hiện thì Chấp hành viên
tiến hành cưỡng chế buộc giao người chưa thành niên hoặc đề nghị cơ quan có
thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án.
Điều 121. Cưỡng chế buộc nhận người lao động trở lại làm việc
1. Trường hợp người sử dụng
lao động không nhận người lao động trở lại làm việc theo bản án, quyết định thì
Chấp hành viên ra quyết định phạt tiền đối với người sử dụng lao động là cá
nhân hoặc người đứng đầu cơ quan, tổ chức sử dụng lao động, đồng thời ấn định
thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định phạt tiền để người sử dụng lao động thực hiện việc nhận người lao
động trở lại làm việc. Hết thời hạn đã ấn định mà người sử dụng lao động không
thực hiện thì Chấp hành viên đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý kỷ luật hoặc
truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án.
2.
Trường hợp không thể bố trí người lao động trở lại làm công việc theo nội dung
bản án, quyết định thì người sử dụng lao động phải bố trí công việc khác với
mức tiền lương tương đương theo quy định của pháp luật lao động.
Trường
hợp người lao động không chấp nhận công việc được bố trí và yêu cầu người sử
dụng lao động thanh toán các chế độ theo quy định của pháp luật lao động thì
người sử dụng lao động phải thực hiện việc thanh toán để chấm dứt nghĩa vụ thi
hành án.
3. Người
sử dụng lao động phải thanh toán cho người lao động khoản tiền lương trong thời
gian chưa bố trí được công việc theo bản án, quyết định, kể từ ngày có đơn yêu
cầu thi hành án cho đến khi người lao động được nhận trở lại làm việc hoặc được
giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều này.
CHƯƠNG V
THI HÀNH ÁN TRONG MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ
Mục 1
THI HÀNH KHOẢN TỊCH THU SUNG QUỸ NHÀ NƯỚC;
TIÊU HUỶ TÀI SẢN; HOÀN TRẢ TIỀN, TÀI SẢN KÊ BIÊN,
TẠM GIỮ TRONG BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH HÌNH SỰ
TIÊU HUỶ TÀI SẢN; HOÀN TRẢ TIỀN, TÀI SẢN KÊ BIÊN,
TẠM GIỮ TRONG BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH HÌNH SỰ
Điều
122. Chuyển giao vật chứng, tài sản tạm giữ kèm theo bản án, quyết định
1. Vật chứng, tài sản tạm giữ trong bản án, quyết
định hình sự do yêu cầu phục vụ việc xét xử mà chưa được chuyển cho cơ quan thi
hành án dân sự trong giai đoạn truy tố, xét xử theo quy định của Bộ luật tố
tụng hình sự thì phải chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự tại thời điểm
Toà án chuyển giao bản án, quyết định.
2. Việc giao, nhận vật chứng, tài sản tạm giữ
được tiến hành tại kho của cơ quan thi hành án dân sự. Bên giao có trách nhiệm
vận chuyển vật chứng, tài sản tạm giữ đến kho của cơ quan thi hành án dân sự.
Đối với vật chứng, tài sản tạm giữ không thể vận
chuyển, di dời về bảo quản tại kho của cơ quan thi hành án dân sự thì địa điểm
giao nhận vật chứng, tài sản tạm giữ là nơi đang gửi, giữ hoặc nơi đang có tài
sản.
3. Việc tiếp nhận tài sản phải có sự tham gia đầy
đủ của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự hoặc người được Thủ trưởng cơ quan
thi hành án dân sự uỷ quyền, thủ kho, kế toán.
Điều 123. Thủ tục tiếp nhận vật chứng, tài sản tạm giữ
Việc tiếp nhận vật chứng,
tài sản tạm giữ được tiến hành theo thủ tục sau đây:
1. Thủ kho có trách nhiệm
trực tiếp nhận, kiểm tra hiện trạng vật chứng, tài sản tạm giữ và nhập kho thi
hành án. Việc giao nhận vật chứng, tài sản tạm giữ phải được lập biên bản ghi
rõ giờ, ngày, tháng, năm giao nhận; số lượng, chủng loại, hiện trạng của từng
loại vật chứng, tài sản tạm giữ, có so sánh với biên bản thu giữ ban đầu của cơ
quan Công an
hoặc Toà án. Cơ quan thi hành án dân sự chỉ tiếp nhận tài sản đủ và đúng với
hiện trạng ghi trong biên bản thu giữ ban đầu. Trong trường hợp vật chứng, tài
sản tạm giữ giao, nhận đã bị thay đổi so với biên bản thu giữ ban đầu thì Thủ
trưởng cơ quan bên giao, bên nhận có trách nhiệm kiểm tra, kết luận và cơ quan
thi hành án dân sự chỉ nhận khi đã được các cơ quan có thẩm quyền làm rõ về
những thay đổi đó.
Biên bản giao, nhận vật
chứng, tài sản tạm giữ phải có chữ ký của người đại diện và dấu của cơ quan bên nhận, chữ ký của người đại diện và dấu của cơ quan bên giao, nếu có.
2. Trường hợp vật chứng, tài
sản tạm giữ được bàn giao dưới hình thức gói niêm phong, cơ quan thi hành án
dân sự chỉ nhận khi có kết quả giám định rõ số lượng, chủng loại, chất lượng
của từng loại vật chứng, tài sản tạm giữ trong gói niêm phong đó của cơ quan có
thẩm quyền. Đối với vật chứng, tài sản tạm giữ là các chất ma tuý, cơ quan thi
hành án dân sự chỉ nhận dưới hình thức gói niêm phong kèm theo kết luận giám
định của cơ quan có thẩm quyền.
Khi giao, nhận phải lập biên
bản ghi rõ hiện trạng của vật chứng, tài sản được niêm phong, có chữ ký của bên
giao, bên nhận. Trường hợp niêm phong bị rách hoặc có dấu hiệu khả nghi trên đó
thì cơ quan thi hành án dân sự chỉ tiếp nhận khi có kết luận giám định của cơ
quan có thẩm quyền.
Điều 124. Xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ bị tuyên tịch thu, sung quỹ nhà nước
1. Đối với vật chứng, tài
sản tạm giữ mà bản án, quyết định tuyên tịch thu, sung quỹ nhà nước thì trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày
ra quyết định thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự phải thông báo bằng văn
bản và tiến hành giao vật chứng, tài sản tạm giữ đó cho cơ quan tài chính cùng
cấp. Đối với tài sản tịch thu, sung quỹ nhà nước do cơ quan thi hành án cấp quân khu thi hành thì
chuyển cho cơ quan tài chính cấp tỉnh nơi cơ quan thi hành án cấp quân khu có
trụ sở.
Chi phí xử lý vật chứng, tài
sản tạm giữ bị tuyên tịch thu, sung quỹ nhà nước do cơ quan tài chính nơi nhận vật chứng, tài sản
tạm giữ chi trả theo quy định của pháp luật.
2. Khi chuyển giao vật
chứng, tài sản tạm giữ phải kèm theo quyết định thi hành án, bản án, quyết định
hoặc bản sao bản án, quyết định do cơ quan thi hành án dân sự sao y bản chính.
3. Việc chuyển giao vật
chứng, tài sản tạm giữ phải có sự tham gia của Thủ trưởng cơ quan thi hành án
dân sự hoặc người được Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự uỷ quyền, kế toán,
thủ kho và đại diện cơ quan tài chính. Việc giao, nhận vật chứng, tài sản tạm
giữ được lập biên bản, mô tả cụ thể thực trạng vật chứng, tài sản tạm giữ, có
chữ ký của người đại diện và dấu của cơ quan bên giao, chữ ký của người đại diện và dấu của cơ quan bên nhận, nếu có.
4. Trường hợp quyết định
tịch thu vật chứng, tài sản tạm giữ đã được thi hành nhưng sau đó phát hiện có
sai lầm và đã được cơ quan có thẩm quyền ra quyết định huỷ bỏ quyết định tịch
thu thì cơ quan thi hành án dân sự phối hợp với cơ quan tài chính cùng cấp hoặc
cơ quan tài chính cấp tỉnh nơi cơ quan thi hành án cấp quân khu có trụ sở để
làm thủ tục hoàn trả lại số tiền đã nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.
Điều 125. Tiêu huỷ vật chứng, tài sản
1.
Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày ra quyết định thi hành án, Thủ trưởng cơ
quan thi hành án dân sự phải ra quyết định thành lập Hội đồng tiêu huỷ vật
chứng, tài sản thuộc diện tiêu huỷ theo bản án, quyết định, trừ trường hợp pháp luật quy định phải tiêu huỷ ngay.
2.
Hội đồng tiêu huỷ vật chứng, tài sản gồm Chấp hành viên là Chủ tịch Hội đồng,
đại diện cơ quan tài chính cùng cấp là thành viên, đại diện cơ quan chuyên môn
tham gia Hội đồng khi cần thiết.
3.
Viện kiểm sát cùng cấp kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tiêu huỷ
vật chứng, tài sản.
Điều 126. Trả lại tiền, tài sản tạm giữ
cho đương sự
1. Thủ trưởng cơ quan thi
hành án dân sự ra quyết định trả lại tiền, tài sản tạm giữ trong trường hợp bản
án, quyết định tuyên trả lại tài sản cho đương sự.
Trường hợp người được trả
lại tiền, tài sản tạm giữ đồng thời là người phải thi hành nghĩa vụ trả tiền
không tự nguyện thi hành án thì Chấp
hành viên xử lý tiền, tài sản đó để thi hành án.
2. Sau khi có quyết định trả
lại tiền, tài sản tạm giữ, Chấp hành viên thông báo cho đương sự thời gian, địa
điểm nhận lại tiền, tài sản.
Hết thời hạn 15 ngày, kể từ
ngày được thông báo mà đương sự không
đến nhận tiền thì Chấp hành viên gửi số tiền đó theo hình thức tiết kiệm không
kỳ hạn và thông báo cho đương sự.
Hết thời hạn 03 tháng, kể từ
ngày được thông báo nhưng đương sự không đến nhận tài sản mà không có lý do
chính đáng thì Chấp hành viên xử lý tài sản theo quy định tại các
điều 98, 99 và 101 của Luật này và gửi số tiền thu được theo hình thức tiết
kiệm không kỳ hạn, đồng thời thông báo cho đương sự.
Hết thời hạn 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực
pháp luật mà đương sự vẫn không đến nhận số tiền đã được
gửi tiết kiệm mà không có lý do chính đáng thì cơ quan thi hành án dân sự làm thủ tục sung quỹ nhà nước.
3. Đối với tài sản không bán
được hoặc bị hư hỏng không còn giá trị sử dụng thì Thủ trưởng cơ quan thi hành
án dân sự phải ra quyết định tiêu huỷ và tổ chức tiêu huỷ tài sản theo quy định
tại Điều 125 của Luật này.
Đối với giấy tờ liên quan
đến tài sản, nhân thân của đương sự thì hết thời hạn 01 năm, kể từ ngày thông
báo nếu đương sự không đến nhận, Chấp hành viên làm thủ tục chuyển giao cho cơ
quan đã ban hành giấy tờ đó xử lý theo quy định.
4. Trường hợp tài sản trả
lại là tiền Việt Nam, ngoại tệ bị hư hỏng không còn sử dụng được do lỗi của các
cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan thi hành án dân sự trong quá trình bảo quản
và đương sự từ chối nhận thì cơ quan thi hành án dân sự đề nghị Ngân hàng nhà nước đổi tiền mới có giá trị tương đương để trả cho
đương sự.
Đối với tài sản là tiền Việt
Nam, ngoại tệ bị hư hỏng không còn sử dụng được không do lỗi của các cơ quan
tiến hành tố tụng, cơ quan thi hành án dân sự mà đương sự từ chối nhận thì cơ
quan thi hành án dân sự giao cho Ngân hàng nhà nước xử lý theo quy định của pháp luật.
5. Việc trả lại tiền tạm ứng án phí theo bản án,
quyết định được thực hiện theo quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này.
Điều 127. Xử lý tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê
biên để bảo đảm thi hành án
Chấp hành viên xử lý theo
quy định tại các điều 98, 99, 100 và 101 của Luật này đối với tài sản mà bản
án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành án trong trường hợp người phải
thi hành án không tự nguyện thi hành án.
Điều 128. Thu án phí, tiền phạt và các khoản phải thu khác đối
với người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù
1. Giám thị trại giam, trại
tạm giam nơi người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù thu các khoản
tiền, tài sản mà người phải thi hành án, thân nhân của người phải thi hành án
nộp để thi hành án và chuyển cho cơ quan thi hành án dân sự xử lý theo quy định
của pháp luật.
2. Trường hợp người phải thi
hành án chuyển trại giam, trại tạm giam hoặc được đặc xá, được miễn chấp hành hình
phạt tù hoặc chết thì Giám thị trại giam, trại tạm
giam nơi người đó chấp hành hình phạt tù phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan thi hành án dân
sự.
Điều 129. Thủ tục trả
lại tiền, tài sản cho người được thi hành án đang chấp hành hình phạt tù
1. Chấp hành viên gửi thông
báo, quyết định về việc nhận lại tiền, tài sản cho người được thi hành án đang
chấp hành hình phạt tù thông qua Giám thị trại giam, trại tạm giam.
Trường hợp người được thi
hành án uỷ quyền cho người khác nhận tiền, tài sản thì văn bản uỷ quyền phải có
xác nhận của Giám thị
trại giam, trại tạm giam. Chấp hành viên trả tiền, tài sản cho người được uỷ
quyền.
2. Trường hợp người được thi
hành án có yêu cầu và được nhận tiền, tài sản tại nơi đang chấp hành hình phạt
tù theo quy định của pháp luật thì Chấp hành viên gửi tiền, tài sản cho người
đó thông qua Giám thị
trại giam, trại tạm giam. Chi phí cho việc gửi tiền, tài sản do người được thi
hành án chịu. Khi giao tiền, tài sản cho đương sự, Giám thị trại giam, trại tạm
giam lập biên bản và gửi cho cơ quan thi hành án dân sự.
3. Trường hợp người được thi
hành án đang chấp hành hình phạt tù từ chối nhận lại tiền, tài sản bằng văn bản
có xác nhận của Giám thị trại giam, trại tạm giam thì Chấp hành viên xử lý
tiền, tài sản để sung quỹ nhà nước hoặc tiêu huỷ theo quy định của Luật này.
Mục 2
THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH ÁP DỤNG
BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI
BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI
Điều 130. Thủ tục thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời
1.
Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi nhận được quyết định thi hành án, Chấp hành
viên phải áp
dụng ngay các biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế sau đây:
a)
Biện pháp cưỡng chế quy định tại các điều 118, 119, 120 và
121 của Luật này để bảo đảm thi
hành quyết định về cấm hoặc buộc đương sự thực hiện hành vi nhất định; giao
người chưa thành niên cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc,
giáo dục; tạm đình chỉ quyết định sa thải người lao động;
b) Biện pháp cưỡng chế quy
định tại các khoản 1, 2, 3 và 5 Điều 71 của Luật này để bảo đảm thi hành quyết định về buộc thực hiện trước một
phần nghĩa vụ cấp dưỡng; buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường
thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm; buộc người sử dụng lao động tạm
ứng tiền lương, tiền công, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh
nghề nghiệp cho người lao động;
c) Biện pháp cưỡng chế quy
định tại Điều 75 của Luật này để đảm bảo thi hành biện pháp khẩn cấp tạm thời
quy định về kê biên tài sản đang tranh chấp.
d) Biện pháp bảo đảm quy
định tại các điều 66, 67, 68 và
69 của Luật này để bảo đảm thi hành quyết định về cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang
tranh chấp; cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp; phong toả tài
khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác; phong toả tài sản ở nơi gửi giữ;
phong toả tài sản của người có nghĩa vụ;
đ) Biện pháp cưỡng chế quy
định tại khoản 3 Điều 71 và các điều 98, 99, 100 và 101 của Luật này để bảo đảm thi hành quyết định về cho thu hoạch, cho bán hoa màu
hoặc sản phẩm hàng hoá khác.
2. Trường hợp người phải thi
hành án cư trú hoặc có tài sản ở địa phương khác thì tuỳ từng trường hợp cụ
thể, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra
quyết định uỷ thác cho cơ quan thi hành án dân sự nơi
người đó cư trú hoặc nơi có tài sản tổ chức thi hành quyết định áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời.
Điều 131. Thi
hành quyết định thay đổi, áp dụng bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời
1.
Trường hợp nhận được quyết định thay đổi hoặc áp dụng bổ sung quyết định áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Toà án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân
sự ra ngay quyết định thi hành án, đồng thời thu hồi quyết định thi hành án đối
với quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đã bị thay đổi.
2. Trường hợp quyết định áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời bị thay đổi đã thi hành được một phần hoặc đã
thi hành xong thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thông báo cho Toà án và
giải thích cho đương sự quyền yêu cầu Toà án giải quyết.
Điều
132. Đình chỉ thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
1. Trường hợp Toà án hủy bỏ quyết định áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời thì ngay sau khi nhận được quyết định của Toà án,
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định đình chỉ thi hành quyết
định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi có quyết định
đình chỉ thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, Chấp hành
viên làm thủ tục giải toả kê biên, trả lại tài sản, giải toả việc phong toả tài
sản hoặc tài khoản của người có nghĩa vụ.
2. Trường hợp quyết định áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời bị Toà án hủy bỏ, nhưng cơ quan thi hành án dân sự đã thi hành
được một phần hoặc thi hành xong thì việc giải quyết quyền lợi của đương sự
được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 131 của Luật này.
Điều
133. Chi phí thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Toà án
1. Chí phí thi hành quyết định áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời của Toà án được tạm ứng từ ngân sách nhà nước và thực hiện
theo quy định tại Điều 73 của Luật này.
Trường hợp người yêu cầu Toà án ra quyết định áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng thì người đó phải thanh toán các
chi phí thực tế do việc thi hành quyết định đó. Khoản tiền đặt trước được đối
trừ, tài sản bảo đảm bị xử lý để thanh toán nghĩa vụ.
2. Trường hợp Toà án tự mình áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời thì chi phí thi hành án được thanh toán từ ngân sách nhà
nước.
Mục 3
THI
HÀNH QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM, TÁI THẨM
Điều
134. Thi hành quyết định giám
đốc thẩm, tái thẩm tuyên giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
Trường hợp quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm
tuyên giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật mà bản án, quyết
định đó chưa thi hành hoặc đã thi hành được một phần thì Thủ trưởng cơ quan thi
hành án dân sự ra quyết định tiếp tục thi hành án. Trường hợp bản án, quyết
định đó đã thi hành xong thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thông báo
cho Toà án đã ra quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm, Viện kiểm sát cùng cấp và
đương sự.
Điều
135. Thi hành quyết định giám đốc thẩm tuyên giữ nguyên bản án, quyết định đúng
pháp luật của Toà án cấp dưới đã bị huỷ hoặc bị sửa
1. Trường hợp quyết định giám đốc thẩm tuyên giữ
nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Toà án cấp dưới đã bị huỷ hoặc bị
sửa thì việc thi hành được thực hiện theo quyết định giám đốc thẩm và bản án,
quyết định đúng pháp luật của Toà án cấp dưới đã bị huỷ hoặc bị sửa.
2. Đối với phần bản án, quyết định của Toà án cấp
dưới không bị huỷ, bị sửa mà chưa được thi hành thì Thủ trưởng cơ quan thi hành
án dân sự ra quyết định tiếp tục thi hành án; nếu đã thi hành xong thì Thủ
trưởng cơ quan thi hành án dân sự thông báo cho Toà án đã ra quyết định giám
đốc thẩm, Viện kiểm sát cùng cấp và đương sự.
3. Đối với phần bản án,
quyết định của Tòa án hủy, sửa bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới
mà đã thi hành được một phần hoặc đã thi hành
xong thì đương sự có thể thỏa thuận với nhau về việc hoàn trả
tài sản, phục hồi lại quyền tài sản.
Trường hợp tài sản thi hành
án là động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản còn nguyên trạng thì cưỡng chế trả lại tài sản đó cho chủ
sở hữu.
Trường hợp tài sản đã được
chuyển dịch hợp pháp cho người thứ ba chiếm hữu ngay tình thông qua bán đấu giá
hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở
hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa hoặc tài sản thi hành án đã bị
thay đổi hiện trạng thì chủ sở hữu tài sản ban đầu không được lấy lại tài sản
nhưng được bồi hoàn giá trị của tài sản.
Trường hợp có yêu cầu về bồi
thường thiệt hại thì cơ quan ra bản án, quyết định bị huỷ, sửa giải quyết theo
quy định của pháp luật.
Điều 136. Thi hành quyết
định giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật
1. Trường hợp quyết định
giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm lại hoặc xét xử phúc thẩm
lại thì việc thi hành án được thực hiện theo bản án, quyết định sơ thẩm mới có
hiệu lực pháp luật hoặc bản án phúc thẩm mới.
2. Trường hợp quyết định
giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
của Tòa án đã xét xử vụ án và đình chỉ giải quyết vụ án mà phần tài sản trong
bản án, quyết định bị hủy đã thi hành được một phần hoặc đã thi hành xong thì thực hiện theo quy định tại khoản 3
Điều 135 của Luật này.
Mục 4
THI
HÀNH QUYẾT ĐỊNH VỀ PHÁ SẢN
Điều 137. Tạm đình chỉ,
đình chỉ và khôi phục thi hành án đối với người phải thi hành án là doanh
nghiệp, hợp tác xã bị lâm vào tình trạng phá sản
1. Sau khi nhận được văn bản của Toà án thông báo về việc thụ lý
đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết
định tạm đình chỉ đối với các trường hợp thi hành về tài sản mà doanh nghiệp,
hợp tác xã là người phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 49 của Luật này.
Sau khi ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án, Thủ
trưởng cơ quan thi hành án dân sự thông báo cho Toà án đang giải quyết yêu cầu
tuyên bố phá sản về kết quả thi hành án đối với doanh nghiệp, hợp tác
xã bị lâm vào tình trạng phá sản.
2. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết
định đình chỉ việc thi hành án về tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã là người
phải thi hành án lâm vào tình trạng phá sản ngay sau khi nhận được quyết định
của Tòa án về việc mở thủ tục phá sản.
Việc tiếp tục thi hành nghĩa vụ về tài sản đối với
doanh nghiệp, hợp tác xã là người phải thi hành án trong trường hợp này thực
hiện theo quy định của Luật phá sản. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có
trách nhiệm chỉ đạo Chấp hành viên bàn giao cho Tổ quản lý, thanh lý tài sản
các tài liệu thi hành án có liên quan đến việc tiếp tục thi hành nghĩa vụ về
tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã bị lâm vào tình trạng phá sản.
3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra
quyết định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản hoặc đình chỉ thủ tục phục hồi
kinh doanh, Thẩm phán tiến hành thủ tục phá sản phải gửi quyết định đó kèm theo
toàn bộ hồ sơ liên quan đến việc thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự đã
ra quyết định đình chỉ việc thi hành án về tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã
là người phải thi hành án lâm vào tình trạng phá sản.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định đình chỉ
tiến hành thủ tục phá sản hoặc đình chỉ thủ tục phục hồi kinh doanh, Thủ trưởng
cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thu hồi quyết định đình chỉ thi hành
án và tiếp tục thi hành án đối với phần nghĩa vụ về tài sản còn phải thi hành
đã đình chỉ đối với doanh nghiệp, hợp tác xã và phân công Chấp hành viên tổ
chức thi hành vụ việc theo quy định của Luật này.
Điều 138. Thi hành các
quyết định của Toà án trong quá trình mở thủ tục phá sản
1. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự không
ra quyết định thi hành án đối với các quyết định của Thẩm phán tiến hành thủ
tục phá sản, kể cả quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, trừ trường
hợp quy định tại Điều 139 của Luật này.
Chấp hành viên và Tổ quản
lý, thanh lý tài sản căn cứ các quyết định của Thẩm phán tiến hành thủ tục phá
sản để tổ chức thi hành.
2. Trong thời hạn 02 ngày
làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định mở thủ tục phá sản, Tổ trưởng Tổ quản
lý, thanh lý tài sản phải lập hồ sơ thi hành án phá sản.
Điều 139. Thi hành nghĩa
vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã phát sinh sau khi có quyết định
tuyên bố phá sản
Trường hợp doanh nghiệp, hợp
tác xã chưa
thanh toán nợ phát sinh sau khi có quyết định tuyên bố phá sản thì chủ nợ chưa được
thanh toán nợ có quyền gửi đơn yêu cầu Toà án giải quyết. Khi có quyết định
giải quyết của Toà án, đương sự có quyền gửi đơn yêu cầu cơ quan thi hành án
dân sự ra quyết định thi hành án và tổ chức thi hành theo quy định của Luật
này.
CHƯƠNG VI
KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ KHÁNG NGHỊ
VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Mục 1
KHIẾU NẠI VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI
VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Điều 140. Quyền khiếu nại về thi hành án
1.
Đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền khiếu nại đối với
quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên
nếu có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm
quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
2. Thời hiệu khiếu nại đối
với quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên như sau:
a) Đối với quyết định, hành
vi về thi hành án trước khi áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế là
15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được hành vi đó;
b) Đối với quyết định về áp
dụng biện pháp phong toả tài khoản là 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được
quyết định;
Đối với quyết định, hành vi
về áp dụng biện pháp bảo đảm khác là 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định
hoặc biết được hành vi đó;
c) Đối với quyết định, hành
vi về áp dụng biện pháp cưỡng chế là 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định
hoặc biết được hành vi đó;
d) Đối với quyết định, hành
vi sau khi áp dụng biện pháp cưỡng chế là 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết
định hoặc biết được hành vi đó.
Trường hợp do trở ngại khách
quan hoặc do sự kiện bất khả kháng mà người khiếu nại không thực hiện được
quyền khiếu nại theo đúng thời hạn thì thời gian có trở ngại khách quan hoặc sự
kiện bất khả kháng không tính vào thời hạn khiếu nại.
Lần khiếu nại tiếp theo,
thời hiệu là 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại của
người có thẩm quyền.
Điều 141. Những trường hợp khiếu nại
không được thụ lý giải quyết
1. Quyết định, hành vi bị khiếu nại không liên quan trực
tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại.
2. Người khiếu nại không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ mà không có người đại diện hợp pháp, trừ trường
hợp pháp luật có quy định khác.
3. Người đại diện không có giấy tờ chứng minh về việc đại
diện hợp pháp của mình.
4. Thời hiệu khiếu nại đã hết.
5. Việc khiếu nại đã có quyết định giải quyết khiếu nại
có hiệu lực thi hành, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 và điểm b
khoản 7 Điều 142 của Luật này.
Điều 142. Thẩm quyền
giải quyết khiếu nại về thi hành án
1. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp
huyện giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi trái pháp luật
của Chấp hành viên thuộc quyền quản lý của cơ quan thi hành án dân sự cấp
huyện.
2. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh
giải quyết đối với các khiếu nại sau đây:
a) Khiếu nại quyết định,
hành vi trái pháp luật của Chấp hành viên thuộc quyền quản lý của cơ quan thi
hành án dân sự cấp tỉnh;
b) Khiếu nại quyết định,
hành vi trái pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện;
c) Khiếu nại đối với quyết
định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện.
Quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp
tỉnh có hiệu lực thi hành.
3. Thủ trưởng cơ quan quản
lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp giải quyết đối với các khiếu nại sau
đây:
a) Khiếu nại quyết định,
hành vi trái pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh;
b) Khiếu nại đối với quyết
định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh.
Quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân
sự thuộc Bộ Tư pháp có hiệu lực thi hành.
4. Bộ trưởng Bộ Tư pháp giải
quyết các khiếu nại sau đây:
a) Khiếu nại đối với quyết
định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự
thuộc Bộ Tư pháp quy định tại điểm a khoản 3 Điều này. Quyết định giải quyết
khiếu nại của Bộ trưởng Bộ Tư pháp có hiệu lực thi hành;
b) Trường hợp
cần thiết, Bộ trưởng Bộ Tư pháp có quyền xem xét lại quyết định giải quyết
khiếu nại đã có hiệu lực thi hành quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.
5. Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu giải quyết
khiếu nại đối với quyết định, hành vi trái pháp luật của Chấp hành viên cơ quan
thi hành án cấp quân khu.
6. Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc
phòng giải quyết các khiếu nại sau đây:
a) Khiếu nại đối với quyết định, hành vi trái pháp luật
của Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu;
b) Khiếu nại đối với quyết
định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu.
Quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án
thuộc Bộ Quốc phòng có hiệu lực thi hành.
7. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng giải quyết các khiếu nại sau
đây:
a) Khiếu nại đối với quyết
định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ
Quốc phòng. Quyết định giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có hiệu
lực thi hành;
b) Trường hợp cần thiết, Bộ
trưởng Bộ Quốc phòng có quyền xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại của
Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng được quy định tại
điểm b khoản 6 Điều này.
Điều 143. Quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại
1. Người khiếu nại có các quyền sau đây:
a) Tự mình khiếu nại hoặc thông qua người đại diện hợp
pháp để khiếu nại;
b) Nhờ luật sư giúp đỡ về pháp luật trong quá trình khiếu
nại;
c) Được nhận quyết định giải quyết khiếu nại;
d) Được biết các bằng chứng để làm
căn cứ giải quyết khiếu nại; đưa ra bằng chứng về việc khiếu nại và giải trình
ý kiến của mình về bằng chứng đó;
đ) Được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm
và được bồi thường thiệt hại, nếu có;
e) Được khiếu nại tiếp nếu không đồng ý với quyết định
giải quyết khiếu nại lần đầu của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại;
g) Rút khiếu nại trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình
giải quyết khiếu nại.
2. Người khiếu nại có các nghĩa vụ sau đây:
a) Khiếu nại đến đúng người có thẩm quyền giải quyết;
b) Trình bày trung thực sự việc, cung cấp thông tin, tài
liệu cho người giải quyết khiếu nại; chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội
dung trình bày và việc cung cấp thông tin, tài liệu đó;
c) Chấp hành nghiêm chỉnh quyết định giải quyết khiếu nại
có hiệu lực thi hành và quyết định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Quốc
phòng quy định tại điểm b khoản 4 và điểm b khoản 7 Điều 142 của Luật này.
Điều 144. Quyền và nghĩa vụ của người bị khiếu
nại
1. Người bị khiếu nại có các quyền sau đây:
a) Được biết các căn cứ khiếu nại của
người khiếu nại; đưa ra bằng chứng về tính hợp pháp của quyết định, hành vi bị
khiếu nại;
b) Được nhận quyết định giải quyết khiếu nại.
2. Người bị khiếu nại có các nghĩa vụ sau đây:
a) Giải trình về quyết định, hành vi bị khiếu nại, cung
cấp các thông tin, tài liệu liên quan khi người có thẩm quyền giải quyết khiếu
nại yêu cầu;
b) Chấp hành nghiêm chỉnh quyết định giải quyết khiếu nại
đã có hiệu lực thi hành và quyết định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ
Quốc phòng quy định tại điểm b khoản 4 và điểm b khoản 7 Điều 142 của Luật này;
c) Bồi thường, bồi hoàn, khắc phục hậu quả do quyết định, hành vi trái pháp luật của mình gây ra
theo quy định của pháp luật.
Điều 145. Quyền và nghĩa vụ của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại
1. Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có các quyền
sau đây:
a) Yêu cầu người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến việc
khiếu nại;
b) Tạm dừng việc thực hiện
quyết định, hành vi bị khiếu nại hoặc yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tạm ngừng việc thi hành án trong thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của Luật này,
nếu xét thấy việc thi hành án sẽ ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của
đương sự hoặc ảnh hưởng đến việc giải quyết khiếu nại.
2. Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có các nghĩa
vụ sau đây:
a) Tiếp nhận, giải quyết khiếu nại đối với quyết định,
hành vi bị khiếu nại;
b) Thông báo bằng văn bản về việc thụ lý để giải quyết,
gửi quyết định giải quyết cho người khiếu nại;
c) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc giải quyết
khiếu nại của mình.
Điều 146. Thời hạn giải quyết khiếu nại
1.
Đối với quyết định, hành vi quy định tại điểm a
khoản 2 Điều 140 của Luật này thì thời
hạn giải quyết khiếu nại lần đầu là 15 ngày, lần hai là 30 ngày, kể từ
ngày thụ lý đơn khiếu nại.
2.
Đối với quyết định, hành vi quy định tại điểm b
khoản 2 Điều 140 của Luật này thì thời
hạn giải quyết khiếu nại là 05 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý đơn
khiếu nại.
3. Đối với quyết định, hành
vi quy định tại điểm c khoản 2 Điều 140 của Luật này thì thời hạn giải quyết
khiếu nại lần đầu là 30 ngày, lần hai là 45 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn khiếu
nại.
Trường
hợp cần thiết, đối với những vụ việc có tính chất phức tạp thì thời hạn giải
quyết khiếu nại có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn
giải quyết khiếu nại.
4. Đối với quyết định, hành vi quy định tại điểm d khoản 2 Điều 140 của Luật này thì thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu là 15 ngày, lần hai là 30 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn khiếu nại.
Điều 147. Hình thức
khiếu nại
Người khiếu nại thực hiện việc khiếu nại bằng một trong các hình thức sau
đây:
1. Gửi đơn khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại. Đơn
của người khiếu nại phải ghi rõ ngày, tháng, năm khiếu nại; họ, tên, địa chỉ
của người khiếu nại; họ, tên, địa chỉ của người bị khiếu nại; nội dung khiếu
nại, lý do khiếu nại và yêu cầu giải quyết. Đơn
khiếu nại phải do người khiếu nại ký tên hoặc điểm chỉ.
2. Trình bày trực tiếp nội dung khiếu nại tại cơ quan có thẩm quyền
giải quyết khiếu nại. Người có trách nhiệm tiếp
nhận việc khiếu nại phải hướng dẫn người khiếu nại viết thành đơn hoặc ghi lại
nội dung theo quy định tại khoản 1 Điều này, có chữ ký hoặc điểm chỉ của người
khiếu nại.
3. Khiếu nại thông qua người đại diện. Người đại diện phải có giấy tờ chứng
minh tính hợp pháp của việc đại diện và việc khiếu nại phải thực hiện theo đúng
thủ tục quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
Điều 148. Thụ lý đơn khiếu nại
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại thuộc
thẩm quyền giải quyết và không thuộc trường hợp quy định tại Điều 141 của Luật
này, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu phải thụ lý để giải quyết
và thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại biết. Trường hợp người có thẩm
quyền không thụ lý đơn khiếu nại để giải quyết thì phải thông báo và nêu rõ lý
do.
Điều 149. Hồ sơ giải quyết khiếu nại
1. Việc giải quyết khiếu nại phải được lập thành hồ sơ.
Hồ sơ giải quyết khiếu nại gồm có:
a) Đơn khiếu nại hoặc văn bản ghi nội dung khiếu nại;
b) Văn bản giải trình của người bị khiếu nại;
c) Biên bản thẩm tra, xác minh, kết luận, kết quả giám
định;
d) Quyết định giải quyết khiếu nại;
đ) Tài liệu khác có liên quan.
2. Hồ sơ giải quyết khiếu nại phải được đánh số bút lục
và được lưu giữ theo quy định của pháp luật.
Điều 150. Trình tự giải
quyết khiếu nại lần đầu
Sau khi thụ lý đơn khiếu nại, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiến
hành xác minh, yêu cầu người bị khiếu nại giải trình, trong trường hợp cần
thiết, có thể trưng cầu giám định hoặc tổ chức đối thoại để làm rõ nội dung
khiếu nại, yêu cầu của người khiếu nại và hướng giải quyết khiếu nại.
Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại phải ra quyết
định giải quyết khiếu nại đối với khiếu nại thuộc thẩm quyền.
Điều 151. Nội dung quyết định giải
quyết khiếu nại lần đầu
1. Ngày, tháng, năm ra quyết định.
2. Họ, tên, địa chỉ của người khiếu nại, người bị khiếu nại.
3. Nội dung khiếu nại.
4. Kết quả xác minh nội dung khiếu nại;
5. căn cứ pháp luật để giải quyết khiếu nại.
6. Kết luận nội dung khiếu nại là đúng, đúng một phần hoặc
sai toàn bộ.
7. Giữ nguyên, sửa đổi, huỷ bỏ hoặc yêu cầu sửa đổi, hủy
bỏ một phần quyết định, hành vi bị khiếu nại hoặc buộc chấm dứt việc thực hiện
quyết định, hành vi bị khiếu nại.
8. Việc bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do quyết định, hành vi trái pháp luật
gây ra.
9. Hướng dẫn quyền khiếu nại lần hai của đương sự.
Điều 152. Thủ tục giải quyết khiếu
nại lần hai
1. Trường hợp tiếp tục khiếu nại thì người khiếu nại phải gửi đơn kèm theo
bản sao quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu và tài liệu liên quan cho người có thẩm quyền giải quyết
khiếu nại lần hai.
2. Trong quá trình
giải quyết khiếu nại lần hai, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có các
quyền được quy định tại Điều 145 của Luật này và có quyền yêu cầu người giải
quyết khiếu nại lần đầu, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu và
những bằng chứng liên quan đến nội dung khiếu nại; triệu tập người bị khiếu
nại, người khiếu nại để tổ chức đối thoại khi cần thiết; xác minh; trưng cầu
giám định, tiến hành các biện pháp khác theo quy định của pháp luật để giải
quyết khiếu nại. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khi nhận được yêu cầu phải thực hiện đúng các
yêu cầu đó.
Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai phải ra quyết định giải
quyết khiếu nại.
Điều 153. Nội dung quyết định giải quyết khiếu nại lần hai
1. Ngày, tháng, năm ra quyết định.
2. Họ, tên, địa chỉ của người khiếu nại, người bị khiếu nại.
3. Nội dung khiếu nại.
4. Kết quả xác minh nội dung khiếu nại.
5. Căn cứ pháp luật để giải quyết khiếu nại.
6. Kết luận về nội dung khiếu nại và việc giải quyết của người có thẩm
quyền giải quyết khiếu nại lần đầu.
7. Giữ nguyên, sửa đổi, huỷ bỏ hoặc yêu cầu sửa đổi, hủy bỏ một phần quyết
định, hành vi bị khiếu nại hoặc buộc chấm dứt thực hiện quyết định, hành vi bị
khiếu nại.
8. Việc bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do quyết định, hành vi trái pháp luật
gây ra.
Mục 2
TỐ CÁO VÀ GIẢI QUYẾT TỐ CÁO
TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Điều 154. Người có quyền tố cáo
Công dân có quyền tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành
án dân sự, Chấp hành viên và công chức khác làm công tác thi hành án dân sự gây
thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích
hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.
Điều 155. Quyền và nghĩa vụ của người tố cáo
1. Người tố cáo có các quyền
sau đây:
a) Gửi đơn hoặc trực tiếp tố
cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền;
b) Yêu cầu giữ bí mật họ,
tên, địa chỉ, bút tích của mình;
c) Yêu cầu được thông báo
kết quả giải quyết tố cáo;
d) Yêu cầu cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền bảo vệ khi bị đe doạ, trù dập, trả thù.
2. Người tố cáo có các nghĩa
vụ sau đây:
a) Trình bày trung thực,
cung cấp tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo;
b) Nêu rõ họ, tên, địa chỉ
của mình;
c) Chịu trách nhiệm trước
pháp luật về việc tố cáo sai sự thật.
Điều 156. Quyền và nghĩa
vụ của người bị tố cáo
1. Người bị tố cáo có các
quyền sau đây:
a) Được thông báo về nội
dung tố cáo;
b) Đưa ra bằng chứng để
chứng minh nội dung tố cáo là không đúng sự thật;
c) Được khôi phục quyền và
lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; được phục hồi danh dự, được bồi thường thiệt hại
do việc tố cáo không đúng gây ra;
d) Yêu cầu cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền xử lý người tố cáo sai sự thật.
2. Người bị tố cáo có các
nghĩa vụ sau đây:
a) Giải trình về hành vi bị
tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan khi cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền yêu cầu;
b) Chấp hành nghiêm chỉnh
quyết định xử lý của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền;
c) Bồi thường thiệt hại,
khắc phục hậu quả do hành vi trái pháp luật của mình gây ra theo quy định của
pháp luật.
Điều 157. Thẩm quyền,
thời hạn và thủ tục giải quyết tố cáo
1. Tố cáo hành vi vi phạm
pháp luật mà người bị tố cáo thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, tổ chức nào
thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm giải quyết.
2. Trường hợp người bị tố
cáo là Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án
dân sự cấp trên trực tiếp hoặc Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự
thuộc Bộ Tư pháp có trách nhiệm giải quyết.
Trường hợp người bị tố cáo
là Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu thì Thủ trưởng cơ quan quản lý
thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng có trách nhiệm giải quyết.
Thời hạn giải quyết tố cáo
là 60 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết
tố cáo có thể dài hơn, nhưng không quá 90 ngày.
3. Tố cáo về hành vi vi phạm
pháp luật có dấu hiệu tội phạm được giải quyết theo quy định của Bộ luật tố
tụng hình sự.
4. Thủ tục giải quyết tố cáo
được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.
Điều 158. Trách nhiệm của
người có thẩm quyền giải quyết tố cáo
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân
có thẩm quyền trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tiếp
nhận và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật; xử lý nghiêm minh người vi phạm;
áp dụng biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra; bảo đảm cho
quyết định giải quyết được thi hành nghiêm chỉnh và chịu trách nhiệm trước pháp
luật về quyết định của mình.
2. Người có thẩm quyền giải
quyết tố cáo mà không giải quyết, thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết, giải
quyết trái pháp luật thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật
hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo
quy định của pháp luật.
Điều 159. Kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân
sự
Viện kiểm sát kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân
sự theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát có quyền yêu cầu, kiến nghị đối
với cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và cấp dưới, cơ quan, tổ chức và cá
nhân có trách nhiệm để bảo đảm việc giải quyết khiếu nại, tố cáo có căn cứ,
đúng pháp luật.
Mục 3
KHÁNG NGHỊ VÀ GIẢI QUYẾT KHÁNG NGHỊ
VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Điều 160. Quyền kháng
nghị của Viện kiểm sát
1. Viện kiểm sát kháng nghị
đối với quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp
hành viên cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và cấp dưới theo quy định của
Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân.
2. Thời hạn kháng nghị của
Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 30
ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc phát hiện hành vi vi phạm.
Điều 161. Trả lời kháng nghị của Viện kiểm sát
1. Thủ trưởng cơ quan thi
hành án dân sự có trách nhiệm trả lời kháng nghị của Viện kiểm sát đối với
quyết định về thi hành án của mình hoặc của Chấp hành viên thuộc quyền quản lý
trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được kháng nghị.
Trường hợp chấp nhận kháng
nghị của Viện kiểm sát thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày có văn
bản trả lời kháng nghị, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải thực hiện
kháng nghị của Viện kiểm sát.
2. Trường hợp Thủ trưởng cơ
quan thi hành án dân sự không nhất trí với kháng nghị của Viện kiểm sát thì
giải quyết như sau:
a) Thủ trưởng cơ quan thi
hành án dân sự cấp huyện nơi có quyết định, hành vi bị kháng nghị phải báo cáo
với Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh và Viện trưởng Viện kiểm sát
cấp trên trực tiếp. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh phải xem
xét, trả lời trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo. Văn bản trả
lời của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh có hiệu lực thi hành;
b) Thủ trưởng cơ quan thi
hành án dân sự cấp tỉnh có quyết định, hành vi bị kháng nghị phải báo cáo với
Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp và Viện kiểm sát
nhân dân tối cao. Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư
pháp xem xét và trả lời trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo.
Văn bản trả lời của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư
pháp có hiệu lực thi hành;
c)
Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu có quyết định, hành vi bị kháng nghị phải báo cáo với Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng và Viện
kiểm sát quân sự trung ương. Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ
Quốc phòng phải xem xét và trả lời trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được
báo cáo. Văn bản trả lời của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ
Quốc phòng có hiệu lực thi hành.
3. Trường hợp xét thấy văn
bản trả lời kháng nghị được quy định tại khoản 2 Điều này không có căn cứ thì
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao yêu cầu Bộ trưởng Bộ Tư pháp
xem xét lại văn bản trả lời đã có hiệu lực thi hành của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân
sự cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp; Bộ trưởng Bộ Quốc phòng xem xét lại văn bản trả
lời đã có hiệu lực thi hành của Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân
khu, Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng.
CHƯƠNG VII
XỬ LÝ VI PHẠM
Điều
162. Hành vi vi phạm hành chính trong thi hành án dân sự
1. Đã
nhận giấy báo, giấy triệu tập lần thứ hai nhưng không có mặt để thực hiện việc
thi hành án mà không có lý do chính đáng.
2. Cố
tình không thực hiện quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Toà án
hoặc bản án, quyết định phải thi hành ngay.
3.
Không thực hiện công việc phải làm hoặc không chấm dứt thực hiện công việc không
được làm theo bản án, quyết định.
4. Có
điều kiện thi hành án nhưng cố tình trì hoãn việc thực hiện nghĩa vụ thi hành
án.
5. Tẩu
tán hoặc làm hư hỏng tài sản để không thực hiện nghĩa vụ thi hành án hoặc để
trốn tránh việc kê biên tài sản.
6.
Không thực hiện yêu cầu của Chấp hành viên về việc cung cấp thông tin, giao
giấy tờ liên quan đến tài sản bị xử lý để thi hành án mà không có lý do chính
đáng.
7. Sử
dụng trái phép, tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu hoặc thay đổi
tình trạng tài sản đã kê biên nhưng chưa tới mức bị truy cứu trách nhiệm hình
sự.
8.
Chống đối, cản trở hay xúi giục người khác chống đối, cản trở; có lời nói, hành
động lăng mạ, xúc phạm người thi hành công vụ trong thi hành án; gây rối trật
tự nơi thi hành án hoặc có hành vi vi phạm khác gây trở ngại cho hoạt động thi
hành án dân sự nhưng chưa tới mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
9. Phá
hủy niêm phong hoặc hủy hoại tài sản đã kê biên nhưng chưa tới mức bị truy cứu
trách nhiệm hình sự.
10.
Không chấp hành quyết định của Chấp hành viên về việc khấu trừ tài khoản, trừ
vào thu nhập, thu hồi giấy tờ có giá của người phải thi hành án.
Điều 163. Thẩm quyền xử phạt vi
phạm hành chính
1.
Những người sau đây có quyền xử phạt vi phạm hành chính trong thi hành án dân
sự:
a)
Chấp hành viên đang giải quyết việc thi hành án;
b) Tổ
trưởng tổ quản lý, thanh lý tài sản của vụ án phá sản;
c) Thủ
trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện;
d) Thủ
trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp
quân khu.
2. Mức
xử phạt vi phạm hành chính trong thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật
về xử lý vi phạm hành chính.
Điều 164. Xử phạt vi phạm và giải
quyết khiếu nại, tố cáo về xử phạt vi phạm hành chính trong thi hành án dân sự
1.
Nguyên tắc xử phạt, thời hiệu xử phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và trình
tự, thủ tục xử phạt cụ thể thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi
phạm hành chính.
2. Việc khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố
cáo trong xử phạt vi phạm hành chính về thi hành án dân sự thực hiện theo quy
định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Điều
165. Xử lý vi phạm
1. Người phải thi hành án cố
ý không chấp hành bản án, quyết định; không tự nguyện thi hành các quyết định
về thi hành án thì tùy theo tính chất và mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm
hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thực hiện các quyết định về thi hành
án thì tuỳ theo tính chất và mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính,
nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường; nếu là cá nhân thì còn có thể bị xử lý
kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
3. Người lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý cản trở việc thi hành án hoặc
ép buộc Chấp hành viên thi hành án trái pháp luật; phá huỷ niêm phong, tiêu
dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu, huỷ hoại vật chứng, tài sản tạm giữ,
tài sản bị kê biên thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật
hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.
4. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cố ý
không ra quyết định thi hành án hoặc ra quyết định về thi hành án trái pháp
luật; Chấp hành viên không thi hành đúng bản án, quyết định, trì hoãn việc thi
hành án, áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án trái pháp luật; vi phạm quy
chế đạo đức của Chấp hành viên thì bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách
nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp
luật.
CHƯƠNG VIII
NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC
TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Điều 166. Nhiệm vụ, quyền hạn của
Chính phủ trong thi hành án dân sự
1. Thống nhất quản lý nhà
nước về thi hành án dân sự trong phạm vi cả nước.
2. Chỉ đạo các cơ quan của
Chính phủ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong thi hành án dân sự.
3. Phối hợp với Toà án nhân
dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong thi hành án dân sự.
4. Định kỳ hàng năm báo cáo
Quốc hội về công tác thi hành án dân sự.
Điều 167. Nhiệm vụ, quyền hạn của
Bộ Tư pháp trong thi hành án dân sự
1. Bộ Tư pháp chịu trách
nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về thi hành án dân sự, có các
nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Ban hành hoặc trình cơ
quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án dân sự;
b) Xây dựng và tổ chức thực
hiện chính sách, kế hoạch về thi hành án dân sự;
c) Phổ biến, giáo dục pháp
luật về thi hành án dân sự;
d) Quản lý hệ thống tổ chức,
biên chế và hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự; quyết định thành lập,
giải thể các cơ quan thi hành án dân sự; đào tạo, bổ nhiệm, miễn nhiệm Chấp hành
viên, Thẩm tra viên;
đ) Hướng dẫn, chỉ đạo, bồi
dưỡng nghiệp vụ cho Chấp hành viên, Thẩm tra viên và công chức khác làm công
tác thi hành án dân sự;
e) Kiểm tra, thanh tra, khen
thưởng, xử lý vi phạm trong công tác thi hành án dân sự; giải quyết khiếu nại,
tố cáo về thi hành án dân sự;
g) Quyết định kế hoạch phân
bổ kinh phí, bảo đảm cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động của cơ quan thi hành
án dân sự;
h) Hợp tác quốc tế trong
lĩnh vực thi hành án dân sự;
i) Tổng kết công tác thi
hành án dân sự;
k) Ban hành và thực hiện chế
độ thống kê về thi hành án dân sự;
l) Báo cáo Chính phủ về công
tác thi hành án dân sự.
2. Cơ quan quản lý thi hành
án dân sự thuộc Bộ Tư pháp giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp quản lý nhà nước về công
tác thi hành án dân sự và thực hiện quản lý chuyên ngành về thi hành án dân sự
theo quy định của Chính phủ.
Điều 168. Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Quốc phòng trong thi
hành án dân sự
1. Phối hợp với Bộ Tư pháp
quản lý nhà nước về thi hành án dân sự trong quân đội:
a) Ban hành hoặc trình cấp
có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án dân sự trong quân đội;
b) Bổ nhiệm, miễn nhiệm Chấp
hành viên; đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ thi hành án dân sự cho Chấp hành viên,
Thẩm tra viên và nhân viên làm công tác thi hành án dân sự trong quân đội;
c) Tổng kết, báo cáo Chính
phủ về công tác thi hành án dân sự;
2. Thực hiện các nhiệm vụ
sau đây:
a) Hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp
vụ thi hành án cho cơ quan thi hành án cấp quân khu; phổ biến, giáo dục pháp
luật về thi hành án dân sự trong quân đội;
b) Quản lý hệ thống tổ chức,
biên chế; quyết định thành lập, giải thể các cơ quan thi hành án trong quân
đội; bổ nhiệm, miễn nhiệm Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp
quân khu; khen thưởng, kỷ luật đối với quân nhân làm công tác thi hành án trong
quân đội;
c) Kiểm tra, thanh tra, giải
quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm về thi hành án trong quân đội;
d) Quản lý, lập kế hoạch
phân bổ kinh phí, bảo đảm cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động thi hành án
trong quân đội.
3. Cơ quan quản lý thi hành
án thuộc Bộ Quốc phòng giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thực hiện nhiệm vụ, quyền
hạn quy định tại Điều này theo quy định của Chính phủ.
Điều 169. Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Công an trong thi
hành án dân sự
1. Phối hợp với Bộ Tư pháp
trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án dân sự.
2. Chỉ đạo cơ quan Công an
bảo vệ cưỡng chế thi hành án, phối
hợp bảo vệ kho vật chứng của cơ quan thi hành án dân sự trong trường hợp cần
thiết.
3. Chỉ đạo trại giam, trại tạm giam nơi người phải thi hành án đang chấp hành
hình phạt tù thu các khoản tiền, tài sản mà người phải thi hành án, thân nhân
của người phải thi hành án nộp để thi hành án.
4. Chỉ đạo cơ quan Công an
có thẩm quyền phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự đề nghị Toà án xét, quyết
định miễn, giảm hình phạt cho những người phải thi hành án có đủ điều kiện theo
quy định của pháp luật.
5. Phối hợp với Bộ Tư pháp
trong việc tổng kết công tác thi hành án dân sự.
Điều 170. Nhiệm vụ, quyền hạn của Toà án nhân dân tối cao
trong thi hành án dân sự
1. Phối hợp với Bộ Tư pháp
trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án dân sự.
2. Chỉ đạo Toà án các cấp
phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự trong công tác thi hành án dân sự, giải
quyết các yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự trong thời hạn quy định của
pháp luật.
3. Phối hợp với Bộ Tư pháp
trong việc tổng kết công tác thi hành án dân sự.
Điều 171. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân
tối cao trong thi hành án dân sự
1. Phối hợp với Bộ Tư pháp
trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án dân sự.
2. Kiểm sát và chỉ đạo Viện
kiểm sát các cấp thực hiện việc kiểm sát thi hành án dân sự theo quy định của
pháp luật.
3. Phối hợp với Bộ Tư pháp
trong việc tổng kết công tác thi hành án dân sự.
Điều 172. Nhiệm vụ, quyền hạn của Tư lệnh quân khu và
tương đương trong thi hành án dân sự
1. Chỉ đạo việc tổ chức phối hợp với các cơ quan có liên quan trong việc thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn quân khu và tương đương theo đề nghị của Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu.
2. Yêu cầu cơ quan thi hành
án cấp quân khu báo cáo công tác, kiểm tra, thanh tra công tác thi hành án trên
địa bàn quân khu và tương đương.
3. Có ý kiến bằng văn bản về
việc bổ nhiệm, miễn nhiệm Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp
quân khu.
4. Quyết định khen thưởng
hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền khen thưởng tập thể, cá nhân có thành tích trong
công tác thi hành án dân sự.
Điều 173. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh trong thi hành án dân sự
1. Chỉ đạo việc tổ chức phối
hợp các cơ quan có liên quan trong thi hành án dân sự trên địa bàn.
2. Chỉ đạo việc tổ chức
cưỡng chế thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng về an ninh, chính trị,
trật tự an toàn xã hội ở địa phương theo đề nghị của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân
sự cấp tỉnh.
3. Có ý kiến bằng văn bản về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm
Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh.
4. Quyết định khen thưởng
hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền khen thưởng tập thể, cá nhân có thành tích
trong công tác thi hành án dân sự.
5. Yêu cầu cơ quan thi hành
án dân sự cấp tỉnh báo cáo công tác thi hành án dân sự ở địa phương.
6. Yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh kiểm tra
công tác thi hành án ở địa phương.
Điều 174. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp
huyện trong thi hành án dân sự
1. Chỉ đạo việc tổ chức phối
hợp các cơ quan có liên quan trong thi hành án dân sự trên địa bàn.
2. Chỉ đạo việc tổ chức
cưỡng chế thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng về an ninh, chính trị,
trật tự an toàn xã hội ở địa phương theo đề nghị của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân
sự cấp huyện.
3. Có ý kiến bằng văn bản về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm
Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện.
4. Yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện tự kiểm
tra, đề nghị Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh kiểm tra công tác
thi hành án dân sự ở địa phương.
5. Quyết định khen thưởng hoặc đề nghị cơ quan có thẩm
quyền khen thưởng tập thể, cá nhân có thành tích trong công tác thi hành án dân
sự.
6. Yêu cầu cơ quan thi hành
án dân sự báo cáo công tác thi hành án dân sự ở địa phương.
Điều 175. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã
trong thi hành án dân sự
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã trong phạm vi nhiệm
vụ, quyền hạn của mình phối hợp với Chấp hành viên và cơ quan thi hành án dân
sự trong việc thông báo thi hành án, xác minh điều kiện thi hành án, áp dụng
biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án và các nhiệm vụ khác về thi
hành án dân sự trên địa bàn.
Điều 176. Trách nhiệm của Kho bạc nhà
nước, ngân hàng và tổ chức tín dụng khác trong thi hành án dân sự
1. Cung cấp đúng, đầy đủ, kịp
thời thông tin, số liệu về tài khoản của người phải thi hành án theo yêu
cầu của Chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự.
2. Thực hiện nghiêm chỉnh, kịp thời yêu cầu của
Chấp hành viên về phong tỏa tài khoản, phong toả tài sản; khấu trừ tiền
trong tài khoản; giải toả việc phong toả tài khoản, phong toả tài sản của người
phải thi hành án.
3. Thực hiện đầy đủ yêu cầu khác của Chấp hành viên, cơ
quan thi hành án dân sự theo quy định của Luật này.
Điều 177. Trách nhiệm của Bảo hiểm xã
hội trong thi hành án dân sự
1. Cung cấp đúng, đầy đủ, kịp
thời thông tin, số liệu về các khoản thu nhập của người phải thi hành án
đang được chi trả qua Bảo hiểm xã hội theo yêu cầu của Chấp hành viên, cơ quan
thi hành án dân sự.
2. Thực hiện nghiêm chỉnh, kịp thời yêu cầu của
Chấp hành viên về khấu trừ thu nhập của người phải thi hành
án để thi hành án.
3. Thực hiện đầy đủ yêu cầu khác của Chấp hành viên, cơ
quan thi hành án dân sự theo quy định của Luật này.
Điều
178. Trách nhiệm của cơ quan đăng ký tài sản, đăng ký giao dịch bảo đảm trong
thi hành án dân sự
1. Tạm dừng hoặc dừng việc thực hiện các yêu cầu
liên quan đến các giao dịch đối với tài sản của người phải thi hành án đăng ký
tại cơ quan đăng ký tài sản, đăng ký giao dịch bảo đảm ngay sau
khi nhận được yêu cầu của Chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự.
2. Thực hiện việc đăng ký quyền sở hữu tài sản,
quyền sử dụng đất cho người mua được tài sản, người được thi hành án nhận tài
sản để trừ vào số tiền được thi hành án.
3. Thu hồi, sửa đổi, hủy các
giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đất, giấy tờ đăng ký giao dịch
bảo đảm đã cấp cho người phải thi hành án; thực hiện việc cấp mới các giấy tờ
theo quy định của pháp luật.
Điều 179. Trách
nhiệm của cơ quan ra bản án, quyết định trong thi hành án
1.
Bảo đảm bản án, quyết định đã tuyên chính xác, rõ ràng, cụ thể, phù hợp với
thực tế.
2.
Có văn bản giải thích những nội dung mà bản án, quyết định tuyên chưa rõ trong
thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của đương sự hoặc của cơ quan
thi hành án dân sự.
Trường
hợp vụ việc phức tạp thì thời hạn trả lời không quá 30 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu.
3.
Trả lời kiến nghị của cơ quan thi hành án dân sự về việc xem xét lại bản án, quyết định của Toà án theo thủ tục
giám đốc thẩm, tái thẩm trong thời hạn 45 ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị.
4.
Thụ lý và kịp thời giải quyết yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, đương sự
về việc xác định quyền sở hữu, phân chia tài sản hoặc giải quyết tranh chấp về
quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản thuộc thẩm quyền của Toà án phát sinh trong
quá trình thi hành án.
Điều 180. Nhiệm vụ,
quyền hạn của cơ quan, tổ chức được giao theo dõi, quản lý người đang chấp hành án hình sự
Cơ quan, tổ chức được giao
theo dõi, quản lý người đang chấp hành án hình sự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của
mình có trách nhiệm phối hợp với cơ quan thi
hành án dân sự về các việc sau đây:
1. Giáo dục người đang chấp hành án hình sự thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ dân sự theo bản
án, quyết định của Toà án;
2. Cung cấp cho cơ quan thi hành án dân sự thông
tin liên quan về người phải thi hành nghĩa vụ về
dân sự đang chấp hành án
hình sự; thực hiện việc thông báo giấy tờ về thi hành
án dân sự cho người phải thi hành án đang chấp hành án hình sự;
3. Phối hợp với cơ quan thi
hành án dân sự thu tiền thi hành án theo quy định của Luật này;
4. Kịp thời thông báo cho cơ
quan thi hành án dân sự về nơi cư trú của người bị kết án đã chấp hành xong
hình phạt tù, được đặc xá, được miễn chấp hành hình phạt tù.
CHƯƠNG IX
ĐIỀU KHOẢN THI
HÀNH
Điều 181. Tương trợ tư pháp về dân sự trong thi hành án
1. Việc yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp về dân sự
trong thi hành án, việc tiếp nhận và xử lý uỷ thác tư pháp về thi hành án của
nước ngoài trong quá trình thi hành án được thực hiện theo quy định của pháp
luật về tương trợ tư pháp.
2. Cơ quan thi hành án dân sự có yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp về dân
sự trong thi hành án phải lập hồ sơ uỷ thác tư pháp theo quy định của pháp luật
về tương trợ tư pháp.
Điều 182. Hiệu lực thi
hành
Luật này có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2009.
Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 hết hiệu lực kể
từ ngày Luật này có hiệu lực.
Điều 183. Quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành
Luật
này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khoá XII, kỳ họp
thứ 4 thông qua ngày 14 tháng 11 năm 2008.
CHỦ TỊCH QUỐC HỘI
Nguyễn Phú Trọng
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
cảm ơn bạn đã đóng góp cho BLOG ngày càng hoàn thiện!